Home | Tin tức - Sự kiện | Tin trong ngành | Tin trong nước | BÁO CÁO SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

BÁO CÁO SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

Font size: Decrease font Enlarge font
image

BÁO CÁO  SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ


I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC VÀ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ NĂM 2008
   
Năm 2008 được ghi nhận là một năm có nhiều biến động về giá cả và khó khăn đối với ngành chăn nuôi nước ta. Rét hại, rét đậm đầu năm; dịch bệnh tai xanh ở lợn, lở mồm long móng ở trâu bò; giá thức ăn tăng cao kỷ lục; sự cạnh tranh gay gắt của thịt ngoại nhập khẩu đã khiến cho ngành chăn nuôi vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, nhất là trong việc tiêu thụ sản phẩm. Tuy vậy, ngành chăn nuôi vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao, trong đó chăn nuôi gia cầm đạt tăng trưởng cao nhất kể từ khi xẩy ra dịch cúm gia cầm ở nước ta vào cuối năm 2003.

    1. Chăn nuôi heo
    Tổng đàn heo to àn qu ốcnăm 2008 so với năm 2007 mặc dù chỉ tăng…..%, song số lượng heo xuất chuồng và sản lượng thịt hơi đã tăng gần….%. Tuy vậy, theo số liệu của Tổng cục Thống kê tại thời điểm 1/10/2008 tổng đàn heo Đông Nam Bộ (ĐNB) là 2,63 triệu con,  giảm 2,73% (73,6 ngàn con), đàn heo nái và sản lượng thịt tăng tương ứng là 0,92% (3,17 ngàn con) và 14,89% (47,274 tấn) so với cùng kỳ năm 2007. Các địa phương có đàn heo giảm nhiều là Đồng Nai 7,32% (80,9 ngàn con) và TP.HCM 9,76% (31 ngàn con). Mặc dù Đồng Nai có tổng đàn giảm nhưng do tăng số lượng heo thịt xuất chuồng 19,32% (226,9 ngàn con) và có nhiều cơ sở giết mổ nên tổng sản lượng thịt tăng 13,67% (15,5 ngàn tấn). Tây Ninh là địa phương có sản lượng thịt tăng cao nhất, đạt gần 50% (18.226 tấn), chiếm 61,45% lượng thịt tăng lên của vùng so với năm 2007.
    Chăn nuôi heo những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, giá thức ăn chăn nuôi và con giống tăng cao. Bệnh LMLM tuy không xảy ra trên diện rộng, nhưng luôn tiềm ẩn trong sản xuất; xuất khẩu tiểu ngạch heo thịt và heo giống qua biên giới phía Bắc chậm được kiểm soát... là những trở ngại, làm giảm tăng trưởng của chăn nuôi heo.
    Phát huy kết quả từ những năm trước, đến nay chăn nuôi heo các tỉnh phía Nam đã thể hiện sự thay đổi rõ rệt về chất. Chính sự thay đổi này đã cải thiện năng suất, chất lượng trong chăn nuôi. Đàn heo ngoại, heo lai chiếm trên 95% tổng đàn, tỷ lệ nạc bình quân của đàn heo ngoại và heo lai đạt từ 53 – 57% với hệ số tiêu tốn thức ăn 2,8  – 3,0kg (trước năm 1990, để được 1kg tăng trọng phải sử dụng 3,8 – 4,3kg thức ăn).



    Giá heo giống và heo hơi của quí I năm 2008 tăng tương ứng là 106% và 100% so quí I năm 2007 và giữ ở mức cao tới tháng 7/2008 rất có lợi cho người chăn nuôi đây là động lực tốt để người chăn nuôi nhanh chóng khôi phục sản xuất. Tuy nhiên, kể từ tháng 8 giá heo giảm, đến nay còn 32.500đ/kg heo hơi và 65.000đ/kg heo giống
    So với các vùng khác trong nước, phương thức chăn nuôi heo ở ĐNB được xem là tiên tiến hơn, đã hình thành nhiều cơ sở chăn nuôi công nghiệp quy mô trang trại. Tuy nhiên, giá thành thịt vẫn cao và chất lượng thấp chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do vậy phải tiến hành đồng bộ các giải pháp như cải tiến giống, thú y, tổ chức chăn nuôi, vệ sinh thực phẩm… để giảm giá thành, nâng cao chất lượng thịt, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nội địa và khi có điều kiện có khả năng cạnh tranh xuất khẩu.

    2. Chăn nuôi gia cầm
Tổng đàn gia cầm của cả nước năm 2008 tăng gần 10% so với năm 2007. Bình quân tổng số gia cầm có mặt thường xuyên đạt 247,3 triệu con, tăng hơn hơn 21 triệu con so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó tổng đàn gà là 179 triệu con, tăng 13,4% so với năm 2007.
ĐBSCL, Tây Nguyên, ĐNB là các vùng có tỷ lê tăng trưởng lớn nhất tương ứng là 17,9; 17,1 và 13,4%. Các tỉnh có tổng đàn gà lớn là Hà Tây (cũ): 13,7 triệu con,  Thanh Hoá, Nghệ An: 12,6 triệu con, Bắc Giang: 12,1 triệu con v.v...
Đồng thời với sự tăng trưởng đầu con, sản lượng thịt và trứng gia cầm cũng tăng ở mức cao, trong đó thịt gia cầm hơi đạt 417 ngàn tấn, tăng 16%, cao nhất kể từ năm 2003 (nếu tính hệ số quay vòng chăn nuôi gà ít nhất 3 lứa/ năm, thì tổng sản lượng thịt gia cầm hơi năm nay ước đạt trên 1,2 triệu tấn); sản lượng trứng đạt 4,94 tỷ quả, tăng 10,6% so với năm 2007.



ĐNB, ĐBSH, TB, ĐBSCL là các vùng có tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm thịt cao nhất, tương ứng 37,9; 17,9 và 16,0 và 14,2%. Các địa phương có sản lượng thịt gia cầm lớn là Hà Tây (cũ): 35,6 ngàn tấn, Nghệ An: 24 ngàn tấn, Bắc Giang: 18,4 ngàn tấn, Vĩnh Phúc: 18 ngàn tấn, Hưng Yên 17,7 ngàn tấn, Đồng Nai: 13 ngàn tấn, Tiền Giang: 11,2 ngàn tấn...
Năm 2008 giá thức ăn chăn nuôi tăng kỷ lục, tăng trên 40% so với năm 2007. Đến nay, mặc dù giá nguyên liệu thức ăn của thế giới đã giảm từ 40-50%, nhưng giá thức ăn chăn nuôi trong nước mới chỉ giảm 15-20%. Trong khi đó giá sản phảm chăn nuôi không những không tăng tương ứng mà có xu hướng giảm dần, gây bất lợi cho người chăn nuôi. Nếu như trong 7 tháng đầu năm, gia cầm giống và gia cầm thịt đều đứng ở mức có lời cho người sản xuất thì từ tháng 8 đến nay giá sản phẩm gia cầm liên tục giảm và đứng ở mức thấp. Giá gà giống thịt lông trắng 1 ngày tuổi từ 7-11 ngàn đồng/con; gà giống thịt lông màu từ 6 - 8 ngàn đồng/con. Giá gà thịt lông trắng 24 -27 ngàn đ/kg và lông màu từ 30-32 ngàn đồng/kg. Nhưng từ tháng 8 đến nay, giá gà giống 1 ngày tuổi chỉ còn 3- 4 ngàn đồng/con và gà thịt cả lông chỉ còn 18 ngàn đồng ở phía Nam và 24 đồng/kg ở phía Bắc. Gà lông màu cao hơn gà trắng khoảng 3- 4 ngàn đồng/kg. Với giá bán sản phẩm như hiện nay, người chăn nuôi gia cầm quy mô bé, đơn lẻ, không liên doanh, liên kết hầu như không có lời thậm chí bị thua lỗ.
Năm 2008 là năm nước ta nhập khẩu số lượng gia cầm giống và sản phẩm gia cầm lớn nhất từ trước tới nay. Tính đến 30/11/2008, số lượng giống gà bố mẹ và ông bà mà các doanh nghiệp đã nhập khẩu là hơn 1,2 triệu con, lớn gấp 2 lần so với năm 2007. Với số lượng con giống bố mẹ nêu trên sẽ có ít nhất 120 triệu con gà thương phẩm được sản xuất, chưa tính số lượng đàn gà bố mẹ sẵn có trong nước lớn gấp nhiều lần con số nhập khẩu. Điều này đã làm tăng lượng cung con giống trong nước lớn hơn 1,5 lần so với năm ngoái.
Đồng thời với việc nhập khẩu nhiều con giống bố mẹ, năm 2008 cũng là năm được ghi nhận nhập khẩu thịt gà nhiều nhất từ trước tới nay. Ứớc tính 10 tháng đầu năm cả nước đã nhập khẩu 105 ngàn tấn thịt gà (chủ yếu là cánh và đùi gà đông lạnh) từ Braxin, Argentina, Hoa Kỳ…. với giá CIF bình quân thịt đùi và cánh gà đông lạnh tương ứng là 1,1và 1,85 USD/kg trong thời gian trước tháng 9 và tương ứng 1,2 và 2,1 USD/kg sau tháng 9. Trong khi đó giá gà lông trong nước xấp xỉ giá thịt nhập khẩu. Với giá cả như vậy, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta thực sự đang phải cạnh tranh khốc liệt với thịt ngoại nhập khẩu.
Với số lượng gà giống nuôi thịt sản xuất gấp 1,5 lần năm ngoái, cùng với khối lượng lớn thịt gà nhập khẩu là một trong hai nguyên nhân cơ bản khiến cho giá thịt gà trong nước giảm nhanh và đứng ở mức thấp nhất trong hai năm trở lại đây.

 

Giá thị heo và thịt gà

                                                                                ĐVT: tăng, giảm (%)

Loại TP

Bình quân Quý I/2008 so với tháng 12/07

T.4

T.5

T.6

T.7

T.8

T.9

Thịt heo

6,1

6,8

10,3

-9,0

-7,3

-5,3

ổn định

thịt gà

-1,3

1,6

3,8

-7,5

ổn định

-3,5

-5,0


    3. Chăn nuôi bò sữa
    Cuối năm 2007 giá thu mua sữa cao, có lợi cho người chăn nuôi đã có tác động thúc đẩy người chăn nuôi tăng đàn và đầu tư thâm canh chăn nuôi bò sữa. Theo số liệu thống kê năm 2008 toàn vùng ĐNB đạt 76.587 con, tăng 13,14% so với năm 2007, chiếm 68,81% tổng đàn bò sữa cả nước; sản lượng sữa đạt 209,4 ngàn tấn, tăng 10,44% so với năm 2007 và chiếm 79% tổng sản lượng sữa tươi cả nước. Chăn nuôi bò sữa đang xuất hiện các mô hình có hiệu quả là các hợp tác xã, tổ hợp tác gắn kết giữa người chăn nuôi với các doanh nghiệp thu mua, chế biến sữa; phần lớn các công ty, doanh nghiệp chế biến sữa có thị phần lớn đã có các chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, như cho vay tín dụng, phát triển mạng lưới thu gom, thưởng phần vượt sản lượng và chất lượng sữa nguyên liệu...



    Giá sữa nguyên liệu thu mua tại cổng nhà máy các tháng đầu năm 2008 dao động trong khoảng 7.000 – 7.500đ/kg, chưa tính phần vượt thưởng. Tuy nhiên, từ tháng 6/2008 một số công ty đã đưa ra các yêu cầu kỹ thuật về chất lượng sữa nguyên liệu thiếu tính khả thi, "phạt nặng, thưởng thấp" không phù hợp với điều kiện thực tế chăn nuôi bò sữa nhằm giảm giá thu mua sữa tươi nguyên liệu (nhiều nơi người chăn nuôi chỉ nhận được khoảng 5.000 – 5.500đ/kg) gây khó khăn cho người chăn nuôi trong hoàn cảnh tất cả giá các loại nguyên liệu đầu vào ngày càng tăng cao.
    Giá thành sản xuất sữa vẫn cao nên lợi nhuận chăn nuôi còn thấp. Vấn đề là tìm biện pháp để nâng cao năng suất sữa, giảm giá thành để tăng thêm lợi nhuận trong chăn nuôi thì đàn bò mới phát triển nhanh. Theo các chuyên gia ngành chăn nuôi, áp dụng khẩu phần thức ăn hợp lý là biện pháp hữu hiệu để giảm giá thành và nâng cao chất lượng sữa. Hiện nay khẩu phần thức ăn cho bò sữa chủ yếu là thức ăn tinh với giá cao, trong khi thức ăn xanh quá thấp. Cần thiết phải chuyển giao những kết quả nghiên cứu khẩu phần thức ăn hợp hợp lý cho nông dân để giảm giá thành sữa, tăng lợi nhuận cho người nuôi.
   
    4. Chăn nuôi bò thịt
    Trong năm qua đàn bò thịt giảm 4,51% (39.126 con), tỉ lệ lai Zêbu đạt trên 38% (bình quân chung cả nước đạt 30%). Các tỉnh có tỉ lệ lai Zêbu cao như Tây Ninh (92,28%), Bình Dương (89,79%). Nhiều địa phương có chương trình phát triển bò thịt, nhiều trang trại chăn nuôi bò thịt với quy mô lớn ở Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Ninh Thuận và Bình Thuận. Toàn vùng có 782 trang trại nuôi bò, chiếm ….% số trang trại bò trong cả nước (theo thống kê năm …)
    Các địa phương đã chuyển đổi một số diện tích đất sang trồng cỏ  nuôi bò, ban hành nhiều chính sách khuyến khích hỗ trợ trồng cỏ như hỗ trợ giống, thủy lợi phí, kỹ thuật trồng... Hiện toàn vùng có khoảng 4.419 ha cỏ. Có nhiều giống cỏ năng suất cao áp dụng cho chăn nuôi bò như cỏ voi, cỏ sả, cỏ Ruzi, cỏ Sweet Jumbo, Maxa Milet… có năng suất 250 – 400 tấn/ha/năm.



    Trước đây bò nuôi chủ yếu phân tán trong hộ gia đình theo theo phương thức cày kéo kiêm thịt thì nay đang phát triển theo hướng tập trung quy mô trang trại kể cả bò sữa và bò thịt. Lợi thế lớn nhất cho ngành chăn nuôi đại gia súc ở ĐNB nói riêng và cả nước nói chung là thị trường tiêu thụ trong nước lớn và đang tăng rất nhanh mà sức cung chưa đáp ứng được.


    5. Chăn nuôi trâu
    Theo số liệu thống kê, tổng đàn trâu tính đến thời điểm 1/10/2008 đã giảm 9,16% so với năm 2007.
   
   
    6. Chăn nuôi dê, cừu
    Cũng như năm 2007, sau thời gian dài đàn dê, cừu tăng trưởng nhanh về đầu con, năm 2008 tốc độ tăng đàn đã chậm lại. Theo số liệu thống kê đến thời điểm 1/10/2008 tổng đàn dê cừu ĐNB đạt 270.880 con (giảm 37%).
    Các mô hình chăn nuôi dê cừu theo hình thức trang trại tiếp tục phát triển, công tác cải tạo giống được chú ý, trong đó giải pháp chọn lọc đảo đực và đưa các giống dê đực ngoại thay dần dê đực nội (đực cỏ) đang được nhiều địa phương khuyến cáo và người chăn nuôi lựa chọn, có thể giúp nâng cao tăng trọng 21%.

    7. Chăn nuôi ong, tằm
    Năm 2008 tổng đàn ong đạt 70.482 tổ (giảm 21,31%), sản lượng mật đạt 2.964 tấn (tăng 25,22%) so năm 2007.
    Một trong những tồn tại lớn của ngành dâu, tằm hiện nay là chất lượng giống tằm, sản xuất đang thiếu các giống tằm thế hệ mới có năng suất và độ dài tơ cao đáp ứng cho nhu cầu chế biến tơ công nghiệp.

    8. Sản xuất thức ăn chăn nuôi
    - Sản xuất và xuất nhập khẩu các nguyên liệu TĂCN: so với cuối năm  năm 2007, giá nguyên liệu TACN tiếp tục tăng cao đặc biệt là các nguyên liệu: Methionin tăng 126%, khô dầu đậu nành tăng 80%, khoai mì lát tăng 42,6%, cám gạo tăng 41,9%, Lyzin tăng 27,7%, bắp 14% độ ẩm tăng 18,7%, bột cá loại 60% protein tăng 10,7%. Giá TACN thành phẩm trên thị trường tăng từ 40 – 60%. Giá TACN thành phẩm gà Broiler cho vỗ béo tăng 48,8%, thức ăn cho heo vỗ béo giai đoạn 60kg đến xuất chuồng tăng 33%. Trong tháng 8, tháng 9 giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi thành phẩm đã đứng và giảm dần, nhưng mức giảm chưa đáng kể so với tốc độ giảm giá thực phẩm và giảm giá nguyên liệu TACN, trong khi đó giá thực phẩm biến động theo chiều ngược lại.
   
    Biến động về giá thức ăn công nghiệp trong năm 2008:

Biến động về giá thức ăn công nghiệp trong năm 2008:

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Tăng, giảm (%) so với tháng trước

2,9

2,3

3,8

1,2

1,0

9,6*

2,1

-1,1

-1,5


    * Tháng 6, do áp lực của tỷ giá ngoại tệ, khan hiếm USD và hạn mức vay tín dụng thấp dẫn đến giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao nên các công ty đã "ào ạt" tăng giá thức ăn, tới 3 lần trong tháng.
    - Chất lượng thức ăn chăn nuôi đang là vấn đề. Kết quả phân tích ban đầu chưa phát hiện có các chất cấm sử dụng trong TĂCN, nhưng một số mẫu phân tích các chất dinh dưỡng thực tế không đạt như đăng ký, nhất là Protein và các loại vitamin... Cục Chăn nuôi đã yêu cầu các cơ quan quản lý có biện pháp xử lý những doanh nghiệp vi phạm.
    - Năm 2008 các địa phương tiếp tục chỉ đạo chuyển đổi mở rộng diện tích trồng cỏ, cây thức ăn xanh cho đàn gia súc, theo báo cáo của các địa phương diện tích trồng cỏ năm 2008 tăng nhanh, đạt trên 10% so với cùng kỳ năm 2007.
    - Sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp tiếp tục tăng cao, theo báo cáo của các địa phương, sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi 6 tháng đầu năm 2008 cả nước đạt 4,02 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2007 trong đó vùng ĐNB đóng góp trên 46% tổng sản lượng sản xuất.
    - Chế biến thức ăn chăn nuôi vùng ĐNB rất phát triển, chủ yếu tập trung tại Đồng Nai, Bình Dương và TpHCM với nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư công nghệ và thiết bị hiện đại, cơ bản đáp ứng nhu cầu thức ăn chăn nuôi của vùng và các khu vực khác trong cả nước. Tuy nhiên giá thành thức ăn gia súc của vùng cũng như cả nước còn cao so với thế giới và khu vực, như là so với Thái Lan cao hơn 16-18%, đã làm hạn chế đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi.
   
10. Kim ngạch xuất nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi

a) Kim ngạch xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2008 khoảng 80,62 triệu USD.
- Mật ong: 26,67 triệu USD
- Heo sữa và heo choai: 34,7 triệu USD
- Sữa và kem: 19,25 triệu USD
b) Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm khoảng 321,8 triệu USD.
- Sữa và kem : 187,6 triệu USD
- Bột Whey : 21,9 triệu USD
- Thịt gia cầm: 82,7 triệu USD (chiếm 71% kim ngạch nhập khẩu về thịt);
- Thịt heo: 12,5 triệu USD (chiếm 10,7% kim ngạch nhập khẩu về thịt);
- Thịt trâu, bò: 17,2 triệu USD (chiếm 14,7% kim ngạch nhập khẩu về thịt);
-  Thịt cừu: 0,9 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% kim ngạch nhập khẩu về thịt)
   
Khối lượng thịt nhập khẩu năm 2008

                                                                                                      Loại thịt

Năm 2007

Tháng 1-8/2008

Trong đó nội tạng

Thịt, nội tạng (tim, gan, thận) trâu, bò, cừu đông lạnh (tấn)

2.833

6.086

7,9

Thịt (chủ yếu đùi, cánh), nội tạng (mề, tim) gà đông lạnh (tấn)

40.868

103.401

150,0

Thịt, nội tạng (gan, tim, thận) heo  đông lạnh (tấn)

472

8.612

426,0


Đánh giá chung

    - Mặc dù có nhiều biến động bất lợi, nhưng nhìn chung ngành chăn nuôi năm 2008 vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng 4,5%.
    - Về đầu con, chăn nuôi gia cầm có mức tăng trưởng khá đạt 13,45% so với cùng kỳ năm trước, đàn bò sữa tiếp tục tăng cao trên 13%; riêng đàn bò thịt giảm 4,51%, đàn heo mặc dù tăng không đáng kể, nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng…….
    - Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp 4 tháng cuối năm tăng trưởng chậm.
    - Chăn nuôi nhỏ lẻ giảm nhiều do không hiệu quả, trong khi đó các trang trại, nhất là trang trại nuôi gà có xu hướng tăng dần quy mô. Tại vùng ĐNB có nhiều trại đạt quy mô 50-100 ngàn con/lứa.
    Một số tồn tại chính
    - Giá các nguyên liệu đầu vào, nhất là thức ăn chăn nuôi vẫn đứng ở mức cao, trong khi đó những tháng cuối năm tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán thấp.
    - Các loại dịch bệnh chưa được kiểm soát triệt để, luôn chứa đựng nguy cơ bùng phát, gây tâm lý bất ổn cho người chăn nuôi.
    Nguy cơ thiếu giống, nhất là những tháng đầu năm 2009, do một số cơ sở sản xuất con giống giảm đàn, hoặc ngừng nuôi.
   
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRƯỚC MẮT ĐỂ ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHĂN NUÔI NĂM 2009

      
    1. Đảm bảo đủ con giống cho sản xuất

     Trong bối cảnh khó khăn về tiêu thụ sản phẩm như hiện nay, một số cơ sở  chăn nuôi kể cả các trại chăn nuôi lớn đã và đang có xu hướng giảm đàn, khiến nguy cơ thiếu giống trong quý I và II của năm 2008 rất cao. Trong khi đó, Đông Nam bộ là vùng cung cấp con giống, nhất là giống heo và gà cho các tỉnh phía Nam, vì vậy cần có một số biện pháp hỗ trợ kịp thời cho các cơ sở sản xuất giống tại một số địa phương để giữ đàn và thay thế con giống tốt, đặc biệt là giống heo. Theo đó, cần:
    - Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án giống vật nuôi, cung cấp đủ nhu cầu giống tốt cho các địa phương nhất là giống heo ngoại, giống gia cầm và tinh bò thịt, sữa.
    - Có chính sách hỗ trợ các cơ sở, các hộ sản xuất giống để ổn định và mở rộng quy mô thông qua chính sách trợ giá một phần con giống, hỗ trợ tinh cho công tác TTNT và một số vật tư khác.
    - Tăng cường các hoạt động quản lý chất lượng con giống: các địa phương cần tổ chức công tác bình tuyển, đánh giá đàn giống trong sản xuất, nhất là heo. Cấp chứng chỉ chất lượng cho con giống đạt tiêu chuẩn và hỗ trợ để loại thải các đực giống không có lý lịch rõ ràng, không đảm bảo chất lượng giống.

    2. Tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi.

    Chất lượng thức ăn chăn nuôi đang là vấn đề nổi cộm. Ngoài việc đề phòng sử dụng các chất cấm, vấn đề gian lận về tiêu chuẩn dinh dưỡng trong thức ăn cũng là hiện tượng thường xuyên xẩy ra, gây thua thiệt cho người chăn nuôi. Do vậy, các địa phương cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát có biện pháp xử lý kịp thời nếu phát hiện các trường hợp vi phạm. Công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng các doanh nghiệp vi phạm chất lượng thức ăn chăn nuôi.

3. Tạo mọi điều kiện lưu thông tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi

     Những tháng cuối năm nhu cầu tiêu thụ thực phẩm lớn, do đó các cơ quan chuyên môn của các địa phương cần tạo điều kiện để các cơ sơ sản xuất thuận lợi trong quá trình lưu thông vận chuyển tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi.
   
    4. Tổ chức thực hiện tốt công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm
    Tổ chức tốt tiêm phòng bệnh cúm gia cầm đợt II cho đàn gia cầm và bệnh LMLM cũng như một số bệnh khác cho đàn gia súc. Tăng cưòng kiểm tra giám sát các cơ sở áp trứng gia cầm, quản lý tốt đàn vịt chạy đồng theo quy định tại QĐ…. của Thủ tướng chính phủ và Thông tư hướng dân của Bộ Nồng thôn và PTNT./.

CỤC CHĂN NUÔI

Thời tiết Hồ CHí Minh

Giá vàng 9999

ÐVT: tr.d/lượng

Tỷ giá

Chứng khoán

stock