Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch Tháng 11/2008 (tt)
IV. XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG LÂM THUỶ SẢN, PHÂN BÓN
1. Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản
Giá trị xuất khẩu nông, lâm và thủy sản tháng 11 ước đạt trên 1,22 tỉ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm lên 14,85 tỷ USD, tăng hơn 24 % so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, các mặt hàng nông sản đạt 7,8 tỉ USD, tăng 37,9 %; thuỷ sản lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 4 tỷ USD đạt 4,27 tỉ USD, tăng 24,8 %; lâm sản đạt 2,77 tỉ USD, tăng 18 %. Tính đến tháng 11/2008 xu hướng đi xuống của kim ngạch xuất nhập khẩu đã thể hiện rõ nét hơn do yếu tố giảm giá và khối lượng các mặt hàng cũng giảm đi.

Cụ thể một số mặt hàng chính như sau :
+ Gạo : Ước tháng 11/2008 xuất khẩu 250 ngàn tấn, kim ngạch đạt 119 triệu USD, đưa tổng lượng gạo xuất khẩu 11 tháng đầu năm ước đạt gần 4,3 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,7 tỉ USD, so cùng kì năm trước giảm gần 4 % về lượng nhưng lại tăng hơn 88 % về giá trị. Gạo là mặt hàng có mức tăng kim ngạch cao nhất trong các các mặt hàng nông lâm sản, do giá gạo xuất khẩu bình quân tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Tại thời điểm tháng 11 mặc dù đã giảm so với tháng 10 nhưng vẫn tăng lên 47 % so với cùng kỳ năm 2007.
+ Cà phê : Ước xuất khẩu tháng 11/2008 đạt khoảng 60 ngàn tấn với trị giá 102 triệu USD. Với ước tính này thì tổng lượng cà phê xuất khẩu 11 tháng năm 2008 sẽ đạt 863 ngàn tấn với giá trị kim ngạch xấp xỉ 1,78 tỷ USD, giảm 20,5 % về lượng nhưng tăng 7,2% về kim ngạch. Giá cà phê xuất khẩu tiếp tục giảm mạnh. Giá xuất khẩu bình quân tháng 11 đang ở mức 1.700 USD/tấn giảm tới 2% so với cùng kỳ năm 2007.
+ Cao su : Khối lượng cao su xuất khẩu tháng 11/2008 ước đạt 70 ngàn tấn tăng 5% về lượng nhưng giảm 15% về giá trị do giá cao su thế giới giảm mạnh. Tổng khối lượng cao su xuất khẩu 11 tháng đầu năm ước đạt 586 ngàn tấn với trị giá hơn 1,5 tỷ USD; giảm 8,3 % về lượng nhưng tăng 22,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2007. Giá cao su XK bình quân tháng 11/08 đã giảm tới 12% so với cùng kỳ năm ngoái do yếu tố giá dầu thế giới giảm.
+ Chè : Ước xuất khẩu tháng 11/2008 đạt 10 ngàn tấn với kim ngạch đạt 13 triệu USD đưa tổng lượng chè xuất khẩu 11 tháng đầu năm ước đạt 100 ngàn tấn, kim ngạch đạt 140 triệu USD, giảm chút ít về lượng (2,5 %) nhưng tăng hơn 20 % về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
+ Hạt điều : Tháng 11/2008, xuất khẩu ước đạt 14 ngàn tấn tăng 4 % về lượng nhưng giá trị kim ngạch hầu như không tăng, chỉ đạt 73 triệu USD. Tuy nhiên, tổng khối lượng điều xuất khẩu của 11 tháng đầu năm sẽ ở mức 153 ngàn tấn với trị giá 853 triệu USD, tăng cả về lượng (gần 11 %) và về kim ngạch (45,9 %) so với cùng kỳ năm 2007.
+ Tiêu : Xuất khẩu tháng 11/2008 ước khoảng 7 ngàn tấn, kim ngạch đạt trên 23 triệu USD đưa khối lượng tiêu xuất khẩu 11 tháng lên con số 86 ngàn tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 300 triệu USD, tăng 11% về lượng và 19,5 % về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
+ Lâm sản và đồ gỗ : Tháng 11/2008, xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính và đồ gỗ ước đạt 271 triệu USD đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm ước đạt trên 2,77 tỉ USD, tăng 18 % so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt trên 2,5 tỉ USD, tăng 19,4 %; sản phẩm mây tre, cói thảm ước đạt 205 triệu USD, tăng 3,7 % cùng kỳ năm trước.
+ Thuỷ sản : Do yếu tố thời vụ, nên xuất khẩu thuỷ sản tháng 11 có xu hướng giảm so với tháng 9 và tháng 10, ước đạt 450 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 11 tháng lên 4,279 tỷ, bằng 100,68 % kế hoạch và tăng 24,32 % so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là lần đầu tiên, xuất khẩu thủy sản vượt qua mức 4 tỷ USD và tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định ở mức cao.
Mặc dù gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ tại thị trường Nga, nhưng cá tra, basa vẫn có đà tăng trưởng ổn định, gần đuổi kịp kim ngạch xuất khẩu tôm động lạnh chế biến. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng năm 2008 đạt 1,23 tỷ USD, tăng 50,87 % so với cùng kỳ (Nga chiếm 13,73 %, Ucraina : 10,46 %, Tây Ban Nha : 8,37 %), khối lượng xuất khẩu 542,9 ngàn tấn, tăng gần 71 % so với cùng kỳ năm 2007. Nga, Ukraina và Ai Cập đang tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu cá tra của Việt Nam. Nga là thị trường đơn lẻ có mức kim ngạch nhập khẩu cá tra của Việt Nam cao nhất. Lượng cá tra xuất sang Ai cập đã tăng tới 250 %. Mặt hàng tôm đông lạnh chế biến vẫn giữ vị trí thứ nhất về kim ngạch đạt 1,35 tỷ USD (tăng 9,95 % so với cùng kỳ) với khối lượng 157,5 ngàn tấn (tăng 21,87% so với cùng kỳ), các thị trường tiêu thụ tôm đông lạnh lớn là Nhật 334,3 triệu USD (chiếm 29,76 % giá trị xuất khẩu tôm đông lạnh), Mỹ 321,5 triệu USD (27,79 %).
Về thị trường, EU vẫn là thị trường nhập khẩu số một của Việt Nam với giá trị đạt 965,2 triệu USD (chiếm 25,21 % tổng giá trị xuất khẩu), tiếp theo là Nhật 684,7 triệu USD (chiếm 17,89 %), Mỹ đứng thứ 3 đạt 616,6 triệu USD (chiếm 16,11 %).
2- Nhập khẩu vật tư, phân bón
Tổng giá trị nhập khẩu của các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản và vật tư, nguyên liệu phục vụ nông, lâm, thuỷ sản tháng 11/2008 ước khoảng 500 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu nhóm hàng này lên hơn 9,4 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ năm 2007 là 38%. Nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố tăng giá gây ra. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu lớn là phân bón, thức ăn gia súc và nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc, nguyên liệu gỗ và sản phẩm gỗ.
Cụ thể một số mặt hàng chính như sau :
+ Phân bón : Lượng phân bón các loại nhập khẩu trong tháng 11 ước đạt 145 ngàn tấn, trong đó; Ure là 40 ngàn tấn, SA – 60 ngàn tấn, DAP – 20 ngàn tấn, NPK – 10 ngàn tấn và các loại khác – 15 ngàn tấn. Tính đến tháng 11/2008, lượng phân bón nhập khẩu ước khoảng 2,96 triệu tấn với trị giá nhập khẩu 1,465 tỷ USD, giảm 12,8 % về lượng, nhưng kim ngạch tăng 72,5 % so với cùng kỳ năm trước. Giá phân bón nhập khẩu tuy có xu hướng giảm dần nhưng vẫn ở mức cao so với cùng kỳ năm 2007 nên giá trị kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này tăng thêm gần 70%
+ Thuốc trừ sâu và nguyên liệu : Ước nhập khẩu tháng 11/2008 đạt 30 triệu USD, đưa tổng nhập khẩu 11 tháng đầu năm ước đạt gần 445 triệu USD, tăng 34,8 % so với cùng kỳ năm 2007.
+ Gỗ và sản phẩm gỗ : Giá trị gỗ và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu tháng 11/2008 ước đạt 80 triệu USD đưa tổng kim ngạch nhập khẩu 11 tháng đầu năm lên hơn 1 tỷ USD, tăng 11,5 % so cùng kỳ năm trước.
+ Thức ăn gia súc và nguyên liệu : Ước kim ngạch nhập khẩu tháng 11/2008 đạt 60 triệu USD. Tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 11 tháng đầu năm ước đạt 1,61 tỷ USD tăng 56% so với cùng kỳ năm trước.
+ Cao su : Ước nhập khẩu tháng 11/2008 đạt 13 ngàn tấn, kim ngạch 30 triệu USD. Trong 11 tháng đầu năm 2008 cả nước nhập khẩu 178 ngàn tấn với kim ngạch 482 triệu USD, so cùng kỳ năm trước xấp xỉ về lượng nhưng tăng 42,5 % về giá trị.
+ Lúa mì : Ước lượng lúa mì nhập khẩu tháng 11/2008 khoảng 50 ngàn tấn với trị giá kim ngạch là 21,5 triệu USD. Tổng lượng nhập khẩu 11 tháng năm 2008 đạt 660 ngàn tấn với trị giá 284 triệu USD, giảm 41,6 % về lượng và 8,8 % về giá trị so cùng kỳ năm trước.
+ Thịt : Nhập khẩu tháng 10 đạt 19 triệu USD, tăng so với tháng 9 là 3 triệu USD. Tổng kim ngạch nhập khẩu thịt 10 tháng đã đạt mức 177 triệu USD trong đó thịt phụ phẩm gia cầm là 120 triệu USD (chiếm 69%) tăng 3,8 lần so với cùng ký năm trước (46,4 triệu USD)
+ Muối : Nhập khẩu muối trong tháng 10 là 6,1 triệu USD (trong đó hạn ngạch là 4,9 triệu USD), đưa tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm
2008 lên 21,6 triệu USD. Ước lượng lúa mì nhập khẩu tháng 11/2008 tăng hơn 5 lần so với cùng kỳ năm 2007 (4,2 triệu USD).
V. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1. Vốn ngân sách tập trung do Bộ quản lý.
1.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung
Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư Nhà nước, phần vốn ngân sách tập trung do Bộ Nông nghiệp & PTNT quản lí tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2008 ước đạt 2.139,48 tỷ đồng, bằng 128,36 % kế hoạch năm, trong đó :
- Vốn thực hiện các dự án đạt 2.063,88 tỷ đồng (bằng 133 % kế hoạch năm). Trong đó :
+ Khối đầu tư thuỷ lợi đạt 1.367 tỷ đồng (bằng 168,97 % kế hoạch);
+ Khối nông nghiệp đạt 305 tỷ đồng (bằng 194,3 % kế hoạch);
+ Khối lâm nghiệp đạt 94 tỷ đồng (bằng 58,75 % kế hoạch);
+ Khối thuỷ sản đạt 96,56 tỷ đồng (bằng 120,7 % kế hoạch);
+ Khối khoa học - công nghệ đạt 94,5 tỷ đồng (bằng 41,94 % kế hoạch);
+ Khối giáo dục đào tạo đạt 74,38 tỷ đồng (bằng 80,41 % kế hoạch)
+ Các ngành khác đạt 32,39 tỷ đồng (bằng 119,52 % so với kế hoạch đầu năm).
- Vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đạt 29,65 tỷ đồng, bằng 66,38% kế hoạch.
- Vốn đầu tư theo các mục tiêu nhiệm vụ cụ thể : đạt 0,95 tỷ đồng, bằng 95 % kế hoạch.
- Vốn chuẩn bị đầu tư : đạt 20,5 tỷ đồng, bằng 101,49 % kế hoạch.
- Bổ sung dự trữ Quốc gia : đạt 24,5 tỷ đồng, bằng 49 % kế hoạch.
Kết quả thực hiện đầu tư đến tháng 11/2008 cụ thể như sau :
a. Khối thuỷ lợi : Khối lượng thực hiện 11 tháng ước đạt 1.367 tỷ đồng bằng 168,97% kế hoạch. Tiến độ thực hiện các dự án nhóm A đạt cao do được ứng vốn cho các dự án cấp bách : Dự án thuỷ lợi WB2 đạt 138,6 % kế hoạch, Dự án ADB3 đạt 268 % kế hoạch, Dự án Phước Hoà đạt 130 % kế hoạch, trong đó :
+ Dự án Phát triển thuỷ lợi ĐBSCL-WB2 : Khối lượng thực hiện đạt 55,44 tỷ đồng, bằng 138,6 % kế hoạch, giải ngân đạt 48,26 tỷ đồng. Các nhà thầu đang tập trung phương tiện xe máy đẩy nhanh tiến độ thi công các gói thầu gia cố các tuyến đê bao của Tiểu dự án Ô Môn - Xà No, Tiểu dự án Quản Lộ Phụng Hiệp, Tiểu dự án Nam Mang Thít; Khẩn trương triển khai công tác nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư và đơn vị quản lý khai thác các hạng mục kè, cống đã hoàn thành
+ Dự án Thuỷ lợi lưu vực sông Hồng-ADB3 :
Một số công trình có tiến độ thực hiện khá như Dự án Hồ chứa nước Yên Lập khối lượng đạt 18,03 tỷ đồng bằng 79 % kế hoạch, trong đó vốn ngoài nước 15,2 tỷ đồng, vốn trong nước 2,83 tỷ đồng; Dự án Hệ thống thuỷ lợi Nam sông Mới khối lượng đạt 7,2 tỷ đồng bằng 68,57 % kế hoạch, trong đó vốn ngoài nước 6,3 tỷ đồng, vốn trong nước 0,9 tỷ đồng; Dự án Cống Tắc Giang - Phủ Lý, khối lượng đạt 33,13 tỷ đồng, bằng 86,5 % kế hoạch; dự án Cống Trà Linh I, khối lượng đạt 14,3 tỷ đồng, bằng 54,47% kế hoạch;
Một số dự án tiến độ thực hiện thấp chưa đạt mục tiêu đặt ra : Trạm bơm Hạ Dục II, khối lượng thực hiện đạt 3,7 tỷ đồng, bằng 16,44 % kế hoạch; Dự án Nam Yên Dũng, khối lượng đạt 7,97 tỷ đồng, bằng 38,87 % kế hoạch; Trạm bơm Bình Hàn - Cầu Sộp, khối lượng đạt 8 tỷ đồng, bằng 45 % kế hoạch; Trạm bơm Mai Xá B, khối lượng đạt 3,9 tỷ đồng, bằng 23,63 % kế hoạch;
+ Một số dự án thuỷ lợi nhóm A, sử dụng vốn ODA tiến độ thực thấp gồm : Dự án Phan Rí - Phan Thiết đạt 22 %, dự án ADB3 đạt 43 %, Dự án chống lũ hạ du sông Sài Gòn đạt 32 %;
b. Khối Nông nghiệp : Khối lượng thực hiện 11 tháng ước đạt 305 tỷ đồng, bằng 194,3 % kế hoạch, chủ yếu là khối lượng thực hiện của Dự án khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai vay vốn ODA đạt 281,53 tỷ đồng (vốn trong nước 43,26 tỷ đồng, vốn ngoài nước 238,27 tỷ đồng). Các Dự án Khoa học và công nghệ nông nghiệp, các tiểu dự án thuộc chương trình Phát triển ngành nông nghiệp khối lượng thực hiện và giải ngân thấp do chưa hoàn thành các thủ tục đấu thầu lựa chọn tư vấn quốc tế.
c. Khối Lâm nghiệp : Khối lượng thực hiện 11 tháng ước đạt 94 tỷ đồng, bằng 58,75 % kế hoạch. Một số dự án đã được đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đạt kết quả khá như Dự án Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn các tỉnh miền Trung đạt 199 %, Dự án Phát triển Lâm nghiệp đạt 96 %. Tuy nhiên, vẫn còn một số dự án chưa thúc đẩy và nâng cao tiến độ thực hiện : Dự án Phát triển lâm nghiệp và cải thiện đồng bào dân tộc Tây nguyên đạt 6 %, Dự án Phát triển lâm nghiệp các tỉnh Sơn La - Hoà Bình đạt 2 %, các dự án sử dụng vốn trong nước, các dự án của các Vườn Quốc gia đều chưa đạt mục tiêu tiến độ yêu cầu.
d. Khối Thuỷ sản : Khối lượng ước đạt 96,56 tỷ đồng, bằng 120,70 % kế hoạch.
e. Khối Khoa học công nghệ, Giáo dục đào tạo : Khối lượng thực hiện và giải ngân 11 tháng đạt 94,5 tỷ đồng, bằng 41,94 % kế hoạch, khối lượng thực hiện và giải ngân của khối Giáo dục - Đào tạo đạt 74,38 tỷ đồng, bằng 80,41 % kế hoạch
1.2. Một số công tác quản lý xây dựng cơ bản cần tập trung trong thời gian tới
- Trực tiếp kiểm tra, rà soát và chỉ đạo phòng chống úng ngập tại các địa bàn trọng điểm, các tuyến đê xung yếu (đê sông Hồng, đê sông Nhuệ, đê sông Tích, đê sông Bùi, đê sông Đáy), các trạm bơm, hồ đập, các công trình thuỷ lợi quan trọng trong hệ thống tiêu thoát lũ trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Tiến hành hàn khẩu, gia cố ngay các tuyến đê, các đập tràn bị vỡ, bị sạt lở, nhanh chóng khôi phục các công trình thuỷ lợi đảm bảo thoát lũ để phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Yêu cầu các địa phương phối hợp chặt chẽ với các chủ đầu tư tăng cường công tác kiểm tra an toàn các công trình thuỷ lợi, tiếp tục theo dõi diễn biến thời tiết, chủ động vận hành để đảm bảo tiêu và thoát lũ.
- Các Cục, Vụ chuyên ngành tiến hành tổng hợp mức độ thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và các thiệt hại khác do mưa lũ gây ra, báo cáo Bộ trình Thủ tướng Chính phủ để có biện pháp hỗ trợ.
- Chỉ đạo bảo đảm an toàn các hồ chứa, tiếp tục theo dõi vận hành an toàn công trình giữ mực nước các hồ chứa, tổ chức đánh giá nguồn nước, triển khai các giải pháp để chuẩn bị điều kiện thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho vụ sản xuất Đông - Xuân năm 2009.
- Tiếp tục thúc đẩy tiến độ thực hiện hoàn thành kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2008, phối hợp với các Bộ, ngành tháo gỡ khó khăn về vốn cho các dự án. Đối với phần khối lượng công việc đủ điều kiện thanh toán, các bên A - B khẩn trương tiến hành các thủ tục nghiệm thu, lên phiếu giá tăng cường giải ngân nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2008;
- Đôn đốc các ban quản lý dự án và các địa phương đẩy nhanh công tác đền bù giải phóng mặt bằng để có mặt bằng thi công đặc biệt là các công trình sử dụng nguồn vốn ODA, vốn trái phiếu Chính phủ. Bộ yêu cầu các nhà thầu tập trung nhân lực, thiết bị xe máy thi công đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình;
- Đối với các dự án cấp bách khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đê, kè, cống, các công trình thuỷ lợi vượt lũ, thoát lũ, khu trú bão cho tàu thuyền đánh cá thuộc danh mục đầu tư năm 2008 được ứng trước vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm sau, Bộ yêu cầu các chủ đầu tư thực hiện nghiêm theo Công văn số 581/TTg–KTTH, ngày 22/4/2008, của Thủ tướng Chính phủ.
- Trên cơ sở khung kế hoạch năm 2009 của ngành đã được xây dựng trình Chính phủ, tổ chức triển khai các nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư cho các công trình dự án đã được ghi trong khung kế hoạch.
2. Các công trình thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
Khối lượng thực hiện các công trình sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 11 tháng năm 2008 ước đạt 2.780 tỷ đồng, bằng 113,49 % so với kế hoạch điều chỉnh và giải ngân ước đạt 2.081,67 tỷ đồng bằng 84,96 % kế hoạch.
- Các dự án thuỷ lợi lớn, cấp bách : Khối lượng đạt 2.039,73 tỷ đồng, bằng 119,94 % kế hoạch, trong đó một số công trình có khối lượng thực hiện cao như : Hồ Cửa Đạt (142 %), Hồ Nước Trong (167 %), Hồ Định Bình (117 %), Hồ Tả Trạch (155%)
- Các công trình thuỷ lợi miền núi : Khối lượng thực hiện 11 tháng ước đạt 515,395 tỷ đồng bằng 86 % kế hoạch. Một số dự án có khối lượng thực hiện khá : Dự án JAMơ đạt 89 %, Hồ chứa nước Krông Buk Hạ đạt 79 %, Hồ chứa nước Đầm Hà Động đạt 115 %; Tuy nhiên, vẫn còn một số công trình chưa đảm bảo tiến độ thi công : Cụm công trình thuỷ lợi Xín Mần đạt 41 %, Hồ suối Mỡ - Bắc Giang đạt 20 %.
- Các công trình thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long : Khối lượng thực hiện 11 tháng ước đạt 224,32 tỷ đồng, bằng 149,54 % so với kế hoạch. Cụ thể một số công trình như sau :
+ Kênh Hà Giang: Khối lượng đạt 21,74 tỷ đồng, bằng 90,58% kế hoạch, ban A đã tiến hành nghiệm thu bàn giao phần kênh đào và nền dân cư dọc theo Kênh ;
+ Kênh Tân Thành - Lò Gạch : Khối lượng ước đạt 58,5 tỷ đồng, bằng 117 % kế hoạch;
+ Kênh Trà Sư - Tri Tôn : Khối lượng ước đạt 99,71 tỷ đồng, bằng 249,27 % kế hoạch;
+ Kênh Phước Xuyên - 28 : Khối lượng đạt 25,91 tỷ đồng, bằng 123,38 % kế hoạch;
VI. HIỆN TRẠNG BÁO CÁO THỐNG KÊ HÀNG THÁNG
Trong tháng 11/2008, 48/63 Sở NN&PTNT (24 tỉnh miền Bắc và 24 tỉnh miền Nam) gửi báo cáo về Trung tâm Tin học và Thống kê đáp ứng phần nào công việc tổng hợp chung, phục vụ chỉ đạo của Bộ và của ngành. Tuy nhiên, thời gian gửi vẫn chưa được đảm bảo, còn chậm. Đặc biệt, vẫn còn 15 tỉnh (chiếm gần 24 % số tỉnh), nhiều hơn 2 tỉnh so với tháng trước, không gửi báo cáo tháng này. Tỉ lệ báo cáo chưa đúng qui định cũng lớn hơn so với tháng trước (29/48 báo cáo được gửi, tương đương 60 %, xem Phụ lục 8a và 8b). số liệu này cho thấy, các địa phương vẫn chưa chú trọng công tác thống kê và chưa nghiêm túc thực hiện chế độ báo cáo thống kê đã ban hành.
Hiện tại số lượng báo cáo về một số lĩnh vực như diêm nghiệp, thủy sản cũng như khối doanh nghiệp còn quá ít (kể cả về số lượng cũng như chất lượng báo cáo) đã gây khó khăn cho việc tổng hợp tình hình chung của toàn ngành
Để đáp ứng yêu cầu tổng hợp số liệu, cung cấp thông tin phân tích dự báo tình hình sản xuất phục vụ công tác điều hành, quản lý của Bộ và của ngành, đề nghị Bộ cần có biện pháp mạnh chỉ đạo các đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc Bộ và các địa phương chấp hành nghiêm túc chế độ báo cáo theo quy định.
- Phát hành trên website: Agroviet.gov.vn


del.icio.us
Digg
Số khách đang xem: 3


