[CBOT 08.09.2020] Đậu nành tiếp tục tăng, trong khi hầu hết các kỳ hạn của lúa mì giảm

    Đăng lúc: Thứ tư - 09/09/2020 11:35
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 chốt phiên giao dịch ngày 08/09 tăng 3,50 cent, ở mức 973,00 cent/bushel, giảm 2,75 cent so với mức cao nhất và tăng 8,00 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên tăng 4,75 cent, ở mức 973.00 cent/bushel, tăng 11,25 cent so với mức thấp nhất và giảm 4,00 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 10 chốt phiên giảm 2,60 usd, ở mức 307,20 usd/short tấn, giảm 2,40 usd với mức cao nhất và tăng 0,30 so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 10 chốt phiên tăng 0,49 cent, ở mức 33,57 cent/pound, bằng với mức cao nhất và tăng 0,49 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành có xu hướng tăng cao hơn qua 11 phiên liên tiếp nhờ lạc quan về xuất khẩu và những lo ngại kéo dài về khả năng năng suất và chất lượng mùa vụ kém. Giá đã tăng khoảng 0,5% khi lực mua kỹ thuật tiếp tục ảnh hưởng một cách mạnh mẽ.

    Bộ NN Mỹ cho biết đã xuất bán 400.000 tấn đậu nành cho Trung Quốc trong năm kinh doanh 2020-2021 và 264.000 tấn đậu nành được ghi nhận trong kỳ báo cáo trước, cũng giao cho Trung Quốc trong năm kinh doanh 2020-2021.

    Xuất khẩu đậu nành khá thất vọng vào tuần trước, cho thấy mức giảm qua các tuần, xuống mức 805.600 tấn. Đó cũng là mức dự báo thấp của thị trường, trong khoảng từ 650.000 tấn đến 1,1 triệu tấn. Cho đến hiện tại, Trung Quốc vẫn là nơi xuất khẩu chính, với hơn 465.000 tấn. Cộng dồn lượng xuất bán cho năm kinh doanh 2019-2020 không thể so với tốc độ cùng kỳ năm ngoái là 43,1 triệu tấn.

    Bắp

    Giá bắp tăng gần 1% do mua kỹ thuật, được thúc đẩy bởi những lo ngại về chất lượng mùa vụ, cùng với thông tin một lượng bán lớn khác cho Trung Quốc.

    Bộ NN Mỹ cho biết đã xuất bán 101.600 tấn bắp cho một quốc gia chưa công bố trong năm kinh doanh 2020-2021.

    Lượng xuất khẩu bắp đã giảm xuống còn 401.000 tấn trong tuần trước, thấp hơn tất cả các ước tính thương mại, dao động trong khoảng từ 500.000 tấn đến 800.000 tấn. Trong lần kiểm tra mới nhất thì số liệu chưa bằng một nữa so với con số 891.000 tấn hồi tuần trước. Mexico nhập nhiều nhất với gần 200.000 tấn. Khi năm kinh doanh 2019-2020 kết thúc, tổng lượng bán thấp hơn gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái, ở mức 41,6 triệu tấn. 

    Lúa mì

    Giá lúa mì giảm mạnh sau khi các nước cạnh tranh khác là Argentina và Australia có mưa thuận lợi. Đồng đô-la Mỹ mạnh cũng gây áp lực.

    Xuất khẩu lúa mì đã giảm nhẹ vào tuần trước, chỉ đạt dưới 517.000 tấn. Các nhà phân tích mong đợi một con số lớn hơn, với ước tính dao động khoảng từ 449.000 tấn đến 700.000 tấn. Nigeria dẫn đầu với 82.000 tấn. Cộng dồn cho năm kinh doanh 2020-2021, tổng lượng xuất bán vẫn cao hơn một chút so với cùng kỳ năm ngoái, ở mức 6,75 triệu tấn.

    Bộ NN Úc đã nâng dự báo sản lượng lúa mì của nước này năm 2020-2021 lên hơn 8%, ở mức 29 triệu tấn, sau khi có mưa thuận lợi tại khu vực miền Đông. 

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng M. hai 5, 2020, 1:12 am
    Code Buy Sell
    AUD 16.00 17.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 25.00 26.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 27.00 28.00
    GBP 30.00 31.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 324.66
    JPY 215.30 226.51
    KRW 18.33 22.31
    KWD - 78.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 345.41
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 677.27 780.79
    USD 23.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 47
    • Khách viếng thăm: 32
    • Máy chủ tìm kiếm: 15
    • Hôm nay: 561
    • Tháng hiện tại: 30260
    • Tổng lượt truy cập: 13265120