[CBOT 09.10.2020] Tồn trữ bắp và đậu nành giảm đáng kể trong Báo cáo Cung cầu tháng 10

    Đăng lúc: Thứ hai - 12/10/2020 08:53
    Báo cáo Cung cầu tháng 10 của Bộ NN Mỹ cho thấy lượng ước tính tồn trữ cuối kỳ của đậu nành bị cắt giảm đáng kể đã thúc đẩy một đợt mua kỹ thuật mới. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 chốt phiên giao dịch ngày 09/10 tăng 15,50 cent, ở mức 1.065,50 cent/bushel, giảm 14,25 cent so với mức cao nhất và tăng 18,50 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên tăng 17,75 cent, ở mức 1.065,75 cent/bushel, tăng 21,50 cent so với mức thấp nhất và giảm 11,25 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 12 chốt phiên tăng 4,10 usd, ở mức 363,70 usd/short tấn, giảm 5,80 usd so với mức cao nhất và tăng 4,30 so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 12 chốt phiên tăng 1,01 cent, ở mức 34,01 cent/pound, giảm 0,40 cent so với mức cao nhất và tăng 1,15 cent so với mức thấp nhất.

    Tồn trữ đậu nành cuối niên vụ 2020-2021 bị cắt giảm xuống mức 7,89 triệu tấn, giảm 4,63 triệu tấn so với báo cáo trong tháng 9 và cao hơn một chút so với ước tính thấp nhất của thị trường trước báo cáo. Bộ NN Mỹ cũng cắt giảm dự báo sản lượng tương ứng xuống 1,22 triệu tấn, giảm tồn kho đầu vụ xuống 1,42 triệu tấn và tăng lượng xuất khẩu lên 2,04 triệu tấn.

    Tồn kho cuối vụ trong nước, ở mức 14,23 triệu tấn, giảm 1,42 triệu tấn so với tháng trước do có sự thay đổi đáng kể trong lượng sử dụng. Vào tháng 9, Bộ NN Mỹ ước tính lượng sử dụng ở mức 1,22 triệu tấn, nhưng đã tăng lên 1,66 triệu tấn vào tháng 10.

    Trên toàn cầu, tồn trữ cuối vụ mới phản ánh những thay đổi so với Mỹ khi bị cắt giảm xuống 88,7 triệu tấn, so với ước tính 93,59 triệu tấn của tháng trước. Bộ NN Mỹ cho biết sự sụt giảm một phần là do nguồn cung đầu kỳ thấp hơn, điều này phản ánh nhu cầu tiêu thụ cao hơn từ Trung Quốc, cho dù Brazil có mức xuất khẩu thấp hơn và dự trữ cao hơn. Sản lượng dự kiến vụ 2020/21 của Argentina là 53,51 triệu tấn và của Brazil là 132,97 triệu tấn.

    Bắp

    Giá bắp tăng sau khi Báo cáo Cung cầu của Bộ NN Mỹ cho thấy ước tính sản lượng giảm và tồn trữ giảm đáng kể. Lực mua kỹ thuật khiến giá hợp đồng kỳ hạn tháng 12 tăng 8 cent, lên mức 395 cent/bushel, và kỳ hạn tháng 3 tăng lên mức 402,25 cent/bushel. Đây là lần đầu tiên giá hợp đồng kỳ hạn tháng 3 chốt phiên cao trên $4 kể từ tháng 10 năm ngoái.

    Tồn trữ bắp cuối vụ cũ 2019-2020 giảm 6,55 triệu tấn, xuống mức 50,67 triệu tấn. Với lượng tồn trữ đầu vụ thấp hơn, Bộ NN Mỹ cũng cắt giảm lượng tồn trữ cuối kỳ trong giai đoạn 2020-2021 thấp hơn, giảm 8,53 triệu tấn, xuống mức 55,04 triệu tấn. Sản lượng được dự báo ở mức 373,94 triệu tấn, giảm 4,52 triệu tấn so với báo cáo tháng 9.

    Năng suất bắp được điều chỉnh nhẹ xuống mức 11,20 tấn/ha. Diện tích thu hoạch cũng bị cắt giảm 0,40 triệu ha, xuống còn 33,39 triệu ha.

    Trên toàn cầu, Bộ NN Mỹ cũng giảm lượng tồn trữ đầu kỳ xuống 4,91 triệu tấn và giảm sản lượng toàn cầu xuống 90,42 triệu tấn. Xuất khẩu giảm 1,56 triệu tấn. Nhìn chung, điều đó đã làm giảm lượng tồn trữ cuối kỳ trên toàn cầu xuống 6,34 triệu tấn so với tháng 9, ở mức 300,45 triệu tấn.

    Lúa mì

    Giá lúa mì biến động trái chiều khi đón nhận thông tin báo cáo từ Bộ NN Mỹ, với giá lúa đỏ mềm Chicago tháng 12 giảm 3 cent, xuống mức 592,25 cent/bushel và giá lúa mì đỏ cứng Kanas tháng 12 tăng 6 cent, lên mức 534,75 cent/bushel.

    Bộ NN Mỹ đã giảm nhẹ năng suất lúa mì xuống 3,34 tấn/ha, giảm từ mức 3,37 tấn/ha trong báo cáo tháng trước. Tồn trữ đầu kỳ giai đoạn 2020-2021 giảm 0,44 triệu tấn, xuống mức 27,98 triệu tấn. Sản lượng cũng giảm 0,33 triệu tấn, xuống còn 49,70 triệu tấn.

    Lượng sử dụng trong nước tăng thêm 0,27 triệu tấn do nhu cầu thức ăn chăn nuôi cao hơn. Xuất khẩu lúa mì vẫn ở mức 26,54 triệu tấn.

    Tồn trữ lúa mì cuối kỳ giai đoạn 2020-2021 giảm 1,14 triệu tấn, xuống mức 24,03 triệu tấn.

    Triển vọng lúa mì toàn cầu cho thấy nguồn cung lớn hơn, tiêu thụ tăng, xuất khẩu cải thiện và tồn trữ cao hơn. Sự gia tăng sản lượng của Nga nhiều hơn mức giảm ở các khu vực khác như Argentina, Canada, Ukraine và Mỹ. Điều đó khiến lượng trữ cuối kỳ toàn cầu tăng từ mức 319,35 triệu tấn của tháng 9 lên mức 321,42 triệu tấn vào tháng 10.


    Chi tiết Báo cáo Cung cầu tháng 10 tại đây: WASDE-605

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Mười 20, 2020, 10:02 pm
    Code Buy Sell
    AUD 15.00 16.00
    CAD 17.00 17.00
    CHF 24.00 25.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 26.00 27.00
    GBP 29.00 30.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 327.64
    JPY 213.94 225.15
    KRW 17.61 21.43
    KWD - 78.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 332.03
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 655.92 756.17
    USD 23.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 42
    • Hôm nay: 9411
    • Tháng hiện tại: 124761
    • Tổng lượt truy cập: 12950620