[CBOT 10.09.2021] Giá đậu nành tăng nhẹ sau Báo cáo Cung cầu tháng 9 của Bộ NN Mỹ

    Đăng lúc: Thứ bảy - 11/09/2021 09:37
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 chốt phiên giao dịch ngày 10/9 tăng 16,0 cent, ở mức 1.286,50 cent/bushel, giảm 13,50 cent so với mức cao nhất và tăng 23,75 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 01/2022 chốt phiên tăng 16,0 cent, ở mức 1.294,75 cent/bushel, tăng 23,75 cent so với mức thấp nhất và giảm 12,75 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 10 chốt phiên tăng 4,40 usd, ở mức 339,50 usd/short tấn, giảm 3,0 usd so mức cao nhất và tăng 5,0 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 10 chốt phiên giảm 0,28 cent, ở mức 55,78 cent/pound, giảm 0,71 cent so với mức cao nhất và tăng 0,59 cent so với mức thấp nhất.

    Thị trường đã chuẩn bị tinh thần cho việc giá giảm khi Bộ NN Mỹ công bố báo cáo Ước tính Cung Cầu Nông nghiệp Thế giới tháng 9 - nhưng số liệu là không thực sự quá tốt. Giá đậu nành tăng gần 1,75% vào sau một đợt mua kỹ thuật khi xuất khẩu lạc quan và triển vọng mức tồn trữ ở mức thấp trong lịch sử sẽ tiếp tục diễn ra trong năm tiếp thị 2021/22.

    Bộ NN Mỹ điều chỉnh ước tính về diện tích và sản lượng đối với đậu nành. Diện tích gieo trồng giảm xuống 35,29 triệu héc-ta, từ mức 35,45 triệu héc-ta trong tháng 8, trong khi năng suất tăng lên 3,40 tấn/ha. Kết quả là sản lượng được dự báo tăng lên 119,04 triệu tấn.

    Tồn trữ đầu kỳ, cũng là cũng là mức tồn cuối năm tiếp thị 2020-2021, tăng 408.200 tấn, lên mức 4,76 triệu tấn. Nhập khẩu giảm 272.155 tấn, dẫn đến tổng nguồn cung là 124,48 triệu tấn.

    Lượng đậu nành đưa vào ép dầu giảm 680.400 tấn, phản ánh nhu cầu khô dầu đậu nành trong nước giảm. Dự báo xuất khẩu đậu nành được nâng lên 952.500 tấn do nguồn cung tăng và giá giảm. Tồn trữ cuối kỳ được dự báo là 5,03 triệu tấn, tăng 816.500 tấn so với tháng trước.

    Trên toàn cầu, tồn trữ cuối vụ tăng lên 98,89 triệu tấn trong niên vụ 2021-2022, với lượng tồn trữ đầu kỳ cao hơn ở Trung Quốc và tồn trữ cuối kỳ cao hơn ở Mỹ.

    Sản lượng niên vụ 2020-2021 của Brazil và Argentina không đổi, lần lượt ở mức 137 triệu tấn và 46 triệu tấn. Trong vụ mùa sắp tới, dự báo sản lượng của Brazil ở mức 144 triệu tấn và sản lượng của Argentina là 52 triệu tấn.

    Một thay đổi đáng chú ý khác là nhập khẩu khô dầu đậu nành của Ấn Độ cao hơn khi chính phủ cho phép nhập khẩu khô dầu đậu nành biến đổi gen đến hết ngày 31/10.

    Bắp

    Giá bắp tăng nhẹ sau một đợt mua kỹ thuật một phần được thúc đẩy bởi lạc quan xuất khẩu khi giá đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng Giêng vào đầu tuần này. Giá đậu nành tăng cũng hỗ trợ thêm vào xu hướng giá bắp tăng.

    Bộ NN Mỹ tăng ước tính năng suất bắp lên 11,07 tấn/ha và tăng diện tích canh tác lên 37,76 triệu héc-ta. Điều này làm tăng phần diện tích được thu hoạch lên mức 34,44 triệu héc-ta.

    Năng suất cao, chỉ kém năng suất kỷ lục năm 2017 là 11,09 tấn/ha, đã làm tăng sản lượng bắp cho niên vụ mới, 2021-2022, lên mức 380,75 triệu tấn.

    Tồn trữ cuối vụ 2021-2022 ở mức 35,76 triệu tấn. Nhu cầu cho thức ăn chăn nuôi tăng và mức sử dụng còn lại cũng tăng lên 144,78 triệu tấn. Xuất khẩu tăng lên mức 60,96 triệu tấn.

    Tồn trữ toàn cầu niên vụ 2021-2022 ở mức 297,63 triệu tấn, tăng 13 triệu tấn so với dự báo tháng 8. Sản lượng ước tính toàn cầu tăng 11,65 triệu tấn lên 1.197,77 triệu tấn. Đối với vụ cũ, tồn trữ cuối kỳ toàn cầu đạt 286,48 triệu tấn, tăng 5,73 triệu tấn so với tháng 8. Dự báo sản lượng của Brazil vụ 2020-2021 giảm 1 triệu tấn xuống 86 triệu tấn. Sản lượng của Argentina được tăng 1,5 triệu tấn lên 50 triệu tấn.

    Lúa mì

    Giá lúa mì biến động trái chiều sau một số động thái điều chỉnh kỹ thuật không đồng đều. Một số lực mua tốt đã giữ cho giá lúa mì vụ Xuân tăng, trong khi hầu hết giá các hợp đồng lúa mì vụ Đông chốt phiên giảm nhẹ.

    Bộ NN Mỹ giữ nguyên sản lượng lúa mì của Mỹ, với diện tích gieo trồng ở mức 18,90 triệu héc-ta và năng suất trung bình là 2,99 tấn/ha.

    Tồn trữ cuối vụ giảm xuống còn 16,74 triệu tấn, giảm từ mức 17,06 triệu tấn trong tháng 8. Lượng nhập khẩu lúa mì giảm 272.155 tấn, trong khi tăng lượng sử dụng cho lương thực thêm 54.430 tấn, dẫn đến mức tồn trữ cuối kỳ thấp hơn.

    Trên toàn cầu, Bộ NN Mỹ tăng ước tính tồn trữ lúa mì cuối kỳ lên hơn 4 triệu tấn, lên 283,22 triệu tấn. Tổng sản lượng toàn cầu tăng, với sản lượng của Australia tăng 1,5 triệu tấn lên 31,5 triệu tấn và sản lượng của Liên minh châu Âu tăng nhẹ lên 139 triệu tấn. Điều này bù đắp cho sự sụt giảm sản lượng của Canada, giảm 1 triệu tấn xuống 23 triệu tấn, trong khi sản lượng của Nga vẫn giữ nguyên ở mức 72,5 triệu tấn.

    Tóm tắt Báo cáo tháng 9:

    Chi tiết báo cáo tháng 9:
    - WASDE616
    - Crop Production

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Chín 20, 2021, 9:11 pm
    Code Buy Sell
    AUD 16.00 16.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 23.00 24.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 25.00 27.00
    GBP 30.00 31.00
    HKD 2.00 2.00
    INR - 320.42
    JPY 202.06 213.76
    KRW 16.53 20.13
    KWD - 78.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 347.87
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 602.76 694.90
    USD 22.00 22.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 21
    • Hôm nay: 6144
    • Tháng hiện tại: 138021
    • Tổng lượt truy cập: 15149636