[CBOT 16.03.2021] Trung Quốc mua của Mỹ một lượng bắp lớn nhất kể từ tháng Giêng

    Đăng lúc: Thứ tư - 17/03/2021 08:36
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên giao dịch ngày 16/3 tăng 3,75 cent, ở mức 1.423,25 cent/bushel, giảm 1,75 cent so với mức cao nhất và tăng 10,50 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 7 chốt phiên tăng 3,50 cent, ở mức 1.413,75 cent/bushel, tăng 10,75 cent so với mức thấp nhất và giảm 1,25 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên giảm 1,30 usd, ở mức 406,10 usd/short tấn, giảm 4,50 usd so với mức cao nhất và tăng 1,60 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên không đổi, ở mức 55,09 cent/pound, giảm 0,50 cent so với mức cao nhất và tăng 0,85 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành tăng nhẹ khi thị trường quan sát tiến độ thu hoạch chậm ở Brazil, cùng với áp lực từ việc giá bắp tăng.

    Tốc độ thu hoạch tại bang sản xuất lớn nhất của Brazil là Mato Grosso dự kiến sẽ kéo dài sang tuần tới, điều này càng làm chậm lại vụ thu hoạch vốn đã quá chậm. Những trận mưa lớn gần đây trên khắp Brazil khiến nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về tiềm năng sản lượng chính xác và chất lượng của vụ mùa năm nay.

    Thời tiết sắp tới có mưa lớn hơn ở miền Trung Brazil và mưa vừa đến mưa to tại miền Nam Brazil và Argentina. Một số nhà phân tích cho rằng sản lượng của Argentina sẽ giảm thêm 2 triệu tấn, xuống còn 44 triệu tấn (thấp hơn nhiều so với dự báo tháng 3 của Bộ NN Mỹ). Tại Brazil, mặc dù CONAB đưa ra ước tính sản lượng đậu nành giảm xuống mức 135,1 triệu tấn, nhưng Hiệp hội các nhà sản xuất đậu nành Mato Grosso Aprosoja ước tính sản lượng đậu nành chỉ còn 128,6 triệu tấn.

    Báo cáo ép dầu đậu nành hàng tháng của NOPA cho thấy 4,22 triệu tấn đậu nành đã được chế biến trong tháng Hai. Đây là mức thấp nhất trong bất kỳ tháng nào kể từ tháng 9/2019 và thấp hơn so với ước tính trung bình trước báo cáo do tháng Hai có ít ngày sản xuất hơn và bị ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh giá. Tồn trữ dầu đậu nành cũng thấp hơn ước tính, ở mức 797.000 tấn.

    Bắp

    Giá bắp tăng sau một phiên giao dịch biến động sau một giao dịch bán lớn sang Trung Quốc, đã kích hoạt lực mua kỹ thuật nhiều hơn trong ngày.

    Các nhà xuất khẩu tư nhân đã xuất bán 1,16 triệu tấn bắp cho Trung Quốc trong năm tiếp thị 2020/21. Đây là giao dịch bán bắp lớn nhất trong một ngày cho Trung Quốc kể từ tháng Giêng.

    AgRural cho biết 75% vụ bắp thứ hai của Brazil đã được trồng trong thời gian lý tưởng. Với những trận mưa lớn dự kiến sẽ tiếp tục ở miền Trung Brazil, 25% diện tích vụ safrinha còn lại sẽ được trồng muộn, đẩy quá trình thụ phấn rơi vào cuối tháng 5 - là thời kỳ khô hạn ở Brazil. Một số diện tích bắp đã trồng sẽ cần được trồng lại do khả năng nảy mầm kém.

    Argentina có thể sẽ có những trận mưa lớn cần thiết trong mười ngày tới, nhưng các nhà phân tích cho rằng hạn hán trước đó đã gây ra nhiều thiệt hại. Ước tính sản lượng bắp hiện nay chỉ khoảng 43 – 45 triệu tấn, thay vì 48 – 49 triệu tấn như ước tính hồi đầu năm.

    Việc trồng bắp ở Texas hiện đã hoàn thành 26%, so với mức 16% cách đây một tuần. Trồng bắp ở Louisiana đã đạt 14%, trong khi Mississippi chỉ hơn 1%.

    Lúa mì

    Giá lúa mì biến động nhẹ trong phiên sau một đợt điều chỉnh kỹ thuật không đồng đều. Giá lúa mì đỏ mềm Chicago kỳ hạn tháng 5 tăng 1,5 cent, giá lúa mì đỏ cứng Kansas tăng 1,25 cent, trong khi giá lúa mì vụ Xuân giảm 01 cent/bushel.

    Thời tiết có nhiều mưa hơn trong vài ngày tới tại Kansas giúp điều kiện chất lượng lúa mì vụ Đông tại đây được cải thiện 2 điểm phần trăm, lên mức 38% từ tốt đến xuất sắc. Phần cây trồng được xếp loại từ kém đến rất kém giảm 5 điểm phần trăm, xuống còn 22%.

    Ai Cập, thường là nhà nhập khẩu lúa mì số 1 thế giới, dự kiến sản lượng lúa mì trong nước khoảng 3,50 triệu tấn. Thu hoạch bắt đầu vào giữa tháng Tư. Nước này cũng cho biết tồn trữ lúa mì hiện tại là khoảng 4,7 tháng.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Bảy 26, 2021, 10:34 pm
    Code Buy Sell
    AUD 16.00 17.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 24.00 25.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 26.00 27.00
    GBP 30.00 32.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 320.28
    JPY 203.04 213.69
    KRW 17.26 21.01
    KWD - 79.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 347.56
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 616.93 711.22
    USD 22.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 24
    • Hôm nay: 5274
    • Tháng hiện tại: 168472
    • Tổng lượt truy cập: 14779267