[CBOT 16.11.2017] Số liệu xuất khẩu đậu nành hàng tuần thấp hơn mong đợi

    Đăng lúc: Thứ sáu - 17/11/2017 10:08
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 1 kết thúc phiên giao dịch ngày 16/11/2017 giảm 4,25 cent, ở mức 972,0 cent/bushel, giảm 6,25 cent so với mức cao nhất và tăng 1,75 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 3 chốt phiên giảm 4,0 cent, ở mức 983,25 cent/bushel, tăng 1,75 cent so với mức thấp nhất và giảm 6,25 cent so với mức cao nhất.
    Giá đậu nành giảm do số liệu bán hàng xuất khẩu thấp hơn kỳ vọng.

    Giá đậu nành giảm do số liệu bán hàng xuất khẩu thấp hơn kỳ vọng.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 1 chốt phiên giảm 0,90 usd, ở mức 312,50 usd/short tấn, giảm 2,40 usd so với mức cao nhất và tăng 0,50 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 1 chốt phiên giảm 0,29 cent, ở mức 34,59 cent/pound, giảm 0,40 cent so với mức cao nhất và tăng 0,05 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành giảm do số liệu bán hàng xuất khẩu thấp hơn kỳ vọng của các nhà phân tích. Giá dầu thô giảm cũng góp phần làm giá đậu nành giảm.

    Số liệu đậu nành xuất khẩu hàng tuần ở mức 1.176.900 tấn, trong đó có 1.104.800 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-2018, nâng tổng mức xuất bán lên 32,58 triệu tấn, giảm 15% so với năm trước. Lượng xếp hàng hàng tuần ở mức 2.555.900 tấn, nâng tổng mức xếp lên 16,96 triệu tấn, giảm 11% so với trong báo cáo của năm ngoái.

    Số liệu khô dầu đậu nành xuất khẩu hàng tuần ở mức 163.100 tấn, giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18 và 6.400 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2018-19.

    Số liệu dầu đậu nành xuất khẩu hàng tuần ở mức 2.700 tấn, toàn bộ giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18. 

    Giá bắp kỳ hạn cũng giảm do số liệu bán hàng xuất khẩu thấp và chịu ảnh hưởng bởi thị trường dầu thô.

    Số liệu bắp xuất khẩu hàng tuần ở mức  954.500 tấn, trong đó 949.500 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-2018, nâng tổng mức xuất bán lên 20,34 triệu tấn, giảm 26% so với năm trước. Lượng xếp hàng hàng tuần ở mức 417.500 tấn, nâng tổng mức xếp lên 6,15 triệu tấn, giảm 41% so với năm trước.

    Giá lúa mì biến động trong phiên. Một mặt chịu ảnh hưởng từ sự giảm giá của các mặt hàng nông sản khác, mặt khác lực mua thương mại lại hậu thuẫn giá lúa mì.
     
    Số liệu lúa mì xuất khẩu hàng tuần ở mức 519.300 tấn, trong đó 489.300 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-2018, nâng tổng mức xuất bán lên 16,78 triệu tấn, giảm 5% so với năm trước. Lượng xếp hàng hàng tuần ở mức 297.800 tấn, nâng tổng mức xếp lên 11,11 triệu tấn, giảm 6% so với năm trước.


    Tuyên bố trách nhiệm: Thông tin sử dụng trong báo cáo được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy, nhưng QD không đảm bảo tính xác thực và/hoặc các hành động mua/bán dựa trên thông tin này.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng M. hai 14, 2018, 4:11 am
    Code Buy Sell
    AUD 16,654.74 16,938.20
    CAD 17,199.32 17,545.01
    CHF 23,161.84 23,626.99
    DKK - 3,606.46
    EUR 26,299.54 26,772.45
    GBP 29,161.26 29,628.15
    HKD 2,939.02 3,004.05
    INR - 337.02
    JPY 199.12 206.16
    KRW 19.11 21.38
    KWD - 79,407.55
    MYR - 5,609.29
    NOK - 2,771.69
    RUB - 390.46
    SAR - 6,435.42
    SEK - 2,607.75
    SGD 16,786.20 17,089.10
    THB 698.03 727.15
    USD 23,240.00 23,330.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 89
    • Khách viếng thăm: 88
    • Máy chủ tìm kiếm: 1
    • Hôm nay: 1504
    • Tháng hiện tại: 69073
    • Tổng lượt truy cập: 9078314