[CBOT 19.07.2018] Thị trường đậu nành biến động do đồng đô-la Mỹ tăng và ảnh hưởng của các căng thẳng thương mại

    Đăng lúc: Thứ sáu - 20/07/2018 10:25
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 08 kết thúc phiên giao dịch ngày 19/07/2018 tăng 3,75 cent, ở mức 846,0 cent/bushel, giảm 0,75 cent so với mức cao nhất và tăng 9,25 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 09 chốt phiên tăng 4,0 cent, ở mức 852,0 cent/bushel, tăng 9,75 cent so với mức thấp nhất và giảm 0,75 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa. (Getty Images)

    Hình minh họa. (Getty Images)

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 08 chốt phiên tăng 0,60 usd, ở mức 328,80 usd/short tấn, giảm 1,40 usd so với mức cao nhất và tăng 2,80 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 08 chốt phiên giảm 0,24 cent, ở mức 27,83 cent/pound, giảm 0,29 cent so với mức cao nhất và tăng 0,12 cent so với mức thấp nhất.
     
    Giá đậu nành biến động do đồng đô la Mỹ giữ ở mức cao và căng thẳng thương mại vẫn tạo áp lực. Brazil vẫn giữ mức phí cao so với hàng hóa xuất xứ Mỹ do các vấn đề về giao nhận hàng hóa.
     
    Tổng lượng đậu nành xuất bán hàng tuần ở mức 865.700 tấn, trong đó 250.300 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18. Tổng lượng hàng xếp cộng với lượng hàng bán chưa xếp là 57,70 triệu tấn, giảm 4% so với cách đây 01 năm. Lượng xếp hàng hàng tuần ở mức 0,60 triệu tấn, kéo tổng mức xếp toàn năm giảm 5% so với năm trước.
     
    Lượng khô dầu đậu nành xuất bán hàng tuần ở mức 131.000 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18 và 91.000 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2018-19.
     
    Lượng dầu đậu nành xuất bán hàng tuần ở mức 10.900 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18 và năm kinh doanh 2018-19.

    Giá bắp kỳ hạn tăng do hậu thuẫn từ giá dầu thô và giá lúa mì tăng.
     
    Tổng lượng bắp xuất bán hàng tuần ở mức 1.415.500 tấn, trong đó 641.000 tấn giao hàng trong năm kinh doanh 2017-18. Tổng lượng hàng xếp cộng với lượng hàng bán chưa xếp trong năm 2017-18 là 58,72 triệu tấn, tăng 4% so với năm trước. Lượng xếp hàng hàng tuần ở mức 1,29 triệu tấn, kéo tổng mức xếp toàn năm giảm 3% so với cách đây 01 năm.
     
    Giá lúa mì tăng do dự đoán lúa mì Pháp và Đức giảm, trong khi điều kiện thời tiết hạn hán đang tệ hơn ở khu vực trồng lúa mì phía đông nước Úc.
     
    Tổng lượng lúa mì xuất bán hàng tuần ở mức 300.000 tấn, toàn bộ thuộc niên vụ mới 2018-19. Tổng lượng hàng xếp cộng với lượng hàng bán chưa xếp là 6,42 triệu tấn, giảm 32% so với cách đây 01 năm. Lượng lúa mì xếp hàng hàng tuần ở mức 0,44 triệu tấn, kéo tổng mức xếp toàn năm giảm 41% trong năm 2018-19 so với năm trước.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Mười 23, 2018, 11:11 am
    Code Buy Sell
    AUD 16,308.82 16,586.36
    CAD 17,569.94 17,923.04
    CHF 23,126.26 23,590.65
    DKK - 3,643.92
    EUR 26,565.36 26,882.33
    GBP 29,925.98 30,405.04
    HKD 2,935.95 3,000.90
    INR - 329.10
    JPY 200.95 207.84
    KRW 18.96 21.21
    KWD - 79,839.23
    MYR - 5,649.96
    NOK - 2,870.81
    RUB - 398.07
    SAR - 6,452.51
    SEK - 2,626.56
    SGD 16,703.84 17,005.21
    THB 696.78 725.84
    USD 23,300.00 23,390.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 100
    • Hôm nay: 3924
    • Tháng hiện tại: 112852
    • Tổng lượt truy cập: 8823975