[CBOT 21.02.2020] Đậu nành giảm mạnh vào phiên cuối tuần do dự báo sản lượng cao

    Đăng lúc: Thứ hai - 24/02/2020 09:53
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 03 chốt phiên giao dịch ngày 21/2 giảm 2,25 cent, ở mức 890,50 cent/bushel, giảm 11,50 cent so với mức cao nhất và tăng 3,0 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 05 chốt phiên giảm 2,0 cent, ở mức 899 cent/bushel, tăng 2,75 cent so với mức thấp nhất và giảm 11,25 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 03 chốt phiên giảm 3,70 usd, ở mức 289,20 usd/short tấn, giảm 6,60 usd với mức cao nhất và tăng 0,20 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 03 chốt phiên tăng 0,52 cent, ở mức 30,64 cent/pound, giảm 0,05 cent so với mức cao nhất và tăng 0,58 cent so với mức thấp nhất.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 13/2, Bộ NN Mỹ báo cáo tăng 494.300 tấn lượng xuất khẩu đậu nành trong giai đoạn 2019-2020 và tăng 3.400 tấn trong giai đoạn 2020-2021. Tuần trước, lượng xếp hàng xuất khẩu ở mức 957.986 tấn, vượt mức cần thiết hàng tuần để đạt kế hoạch xuất khẩu 49,67 triệu tấn của Bộ NN Mỹ trong giai đoạn 2019-2020. Cam kết xuất khẩu đậu nành hiện đạt tổng cộng 33,45 triệu tấn trong giai đoạn 2019-2020 và giảm 9% so với một năm trước.

    Lượng xuất khẩu khô dầu đậu nành hàng tuần đạt 169.400 tấn và dầu đậu nành ở mức 42.000 tấn, cả hai cho năm tiếp thị 2019-2020.

    Vụ mùa đậu nành 2020-2021 được dự báo cao hơn về nguồn cung, lượng ép dầu và xuất khẩu, nhưng lại có mức tồn trữ thấp hơn so với năm tiếp thị 2019-2020. Diện tích trồng được dự kiến ở mức 34,4 triệu ha, với năng suất dự kiến là 3,32 tấn/ha, sản lượng đậu nành được dự báo là 114,17 triệu tấn, cao hơn 18% so với năm 2019-2020, nhưng vẫn thấp hơn hai năm trước.

    Tổng nguồn cung vụ mới được dự kiến ở mức 126,14 triệu tấn, sau khi 11,57 triệu tấn được kết chuyển từ niên vụ 2019-2020.

    Lượng ép dầu đậu nành được dự đoán ở mức kỷ lục là 57,15 triệu tấn, do nhu cầu trong nước đối với khô dầu đậu nành cao hơn so với xuất khẩu.

    Xuất khẩu đậu nành được dự kiến ở mức 55,79 triệu tấn trong giai đoạn 2020-2021, tăng 6,12 triệu tấn so với niên vụ 2019-2020.

    Dự trữ đậu nành niên vụ 2020-2021 được dự kiến ở mức 8,71 triệu tấn, giảm 2,86 triệu tấn so với dự trữ cuối năm 2019-2020 và thấp nhất kể từ năm 2016-2017. Với lượng sử dụng dự kiến tăng 6%, tỷ lệ sử dụng-tồn trữ cho đậu nành được dự kiến ở mức 7,4%, giảm từ 10,5% trong năm 2019-20.

    Bắp

    Trong tuần kết thúc vào ngày 13/2, Bộ NN Mỹ đã báo cáo tăng 1.249.200 tấn lượng xuất khẩu bắp trong giai đoạn 2019-2020. Tuần trước, lượng xếp hàng xuất khẩu đạt 0,76 triệu tấn, dưới mức cần thiết hàng tuần để đạt được kế hoạch xuất khẩu của Bộ NN Mỹ là 43,82 triệu tấn trong năm 2019-2020. Cam kết xuất khẩu bắp hiện đạt tổng cộng 25,02 triệu tấn trong giai đoạn 2019-2020 và giảm 35% so với một năm trước.

    Vụ mùa bắp niên vụ 2020-2021 cho thấy mức dự báo kỷ lục về sản lượng và lượng sử dụng trong nước, lượng xuất khẩu cũng cao hơn và tồn trữ cao hơn. Diện tích trồng bắp ở mức 38,04 triệu ha, với năng suất dự kiến là 11,20 tấn/ha, sẽ cho sản lượng dự kiến là 393,70 triệu tấn.

    Tổng lượng sử dụng bắp trong giai đoạn 2020-2021 dự kiến sẽ tăng 5% so với một năm trước do sử dụng trong nước cao kỷ lục và xuất khẩu tăng trở lại. Lượng sử dụng trong thức ăn chăn nuôi và sử dụng khác dự kiến sẽ tăng lên 147,32 triệu tấn khi giá dự kiến giảm hơn.

    Xuất khẩu được dự báo sẽ tăng lên mức 53,34 triệu tấn cùng với kỳ vọng tăng trưởng thương mại toàn cầu, cho dù vẫn có sự cạnh tranh liên tục từ các nước xuất khẩu khác như Argentina, Brazil và Ukraine. Thực phẩm, hạt giống và lượng sử dụng công nghiệp được dự kiến là 172,72 triệu tấn do lượng sử dụng để sản xuất ethanol tăng cao.
     
    Tồn trữ cuối năm 2020-2021 được dự kiến ở mức 266,98 triệu tấn, tăng 18,92 triệu tấn từ năm 2019-2020. Với tổng lượng sử dụng được chốt ở mức 374,40 và tỷ lệ sử dụng – tồn trữ ở mức 17,9%, cao hơn đáng kể so với ba vụ bắp trước đây.

    Lúa mì

    Trong tuần kết thúc vào ngày 13/2, Bộ NN Mỹ đã báo cáo tăng 346.300 tấn lượng xuất khẩu lúa mì trong giai đoạn 2019-2020 và tăng 60.100 tấn trong giai đoạn 2020-2021. Tuần trước, lượng xếp hàng xuất khẩu là 596.020 tấn, dưới mức cần thiết hàng tuần để đạt được kế hoạch xuất khẩu 27,22 triệu tấn của Bộ NN Mỹ trong năm 2019-2020. Cam kết xuất khẩu lúa mì hiện đạt tổng cộng 22,26 triệu tấn trong giai đoạn 2019-2020 và tăng 4% so với một năm trước.

    Vụ mùa lúa mì năm 2020-2021 cho thấy nguồn cung ít hơn, tổng lượng sử dụng thấp hơn và tồn cuối giảm. Sản lượng lúa mì được dự báo giảm 4% từ năm 2019-2020 xuống còn 49,97 triệu tấn với năng suất dự kiến thấp hơn là 3,24 tấn/ha. Diện tích gieo trồng được dự kiến là 18,21 triệu ha, thấp hơn so với niên vụ 2019-2020.

    Tổng nguồn cung dự kiến là 79,36 triệu tấn, với tổng lượng sử dụng trong nước ở mức 31 triệu tấn, giảm 0,71 triệu tấn so với năm 2019-2020.

    Lượng xuất khẩu vẫn không thay đổi so với năm 2019-2020, dự kiến là 27,22 triệu tấn.

    Tổng mức tồn cuối lúa mì sẽ giảm xuống còn 21,15 triệu tấn do sản lượng thấp hơn. Điều đó làm giảm tỷ lệ sử dụng – tồn trữ xuống 36,3% từ 43,4% trong giai đoạn 2019-2020.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 18
    • Khách viếng thăm: 17
    • Máy chủ tìm kiếm: 1
    • Hôm nay: 2082
    • Tháng hiện tại: 194525
    • Tổng lượt truy cập: 11986209