[CBOT 22.03.2021] Dầu đậu nành tăng mạnh gây áp lực lên giá khô đậu nành

    Đăng lúc: Thứ ba - 23/03/2021 08:52
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên giao dịch ngày 22/3 tăng 1,25 cent, ở mức 1.417,50 cent/bushel, giảm 5,25 cent so với mức cao nhất và tăng 12,25 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 7 chốt phiên tăng 1,0 cent, ở mức 1.404 cent/bushel, tăng 11,25 cent so với mức thấp nhất và giảm 5,50 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên giảm 11,30 usd, ở mức 396,60 usd/short tấn, giảm 12,20 usd so với mức cao nhất và tăng 1,20 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 5 chốt phiên tăng 2,50 cent, ở mức 56,37 cent/pound, bằng với mức cao nhất và tăng 3,11 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành giao dịch giằng co trong phiên đầu tuần và chốt phiên với mức tăng khiêm tốn khoảng 0,15% do một số lực mua kỹ thuật. Trong khi khô đậu nành giảm mạnh do lực bán kỹ thuật khi giá dầu đậu nành tăng cao.

    Kiểm tra xuất khẩu đậu nành trong tuần đạt 490.000 tấn, cao hơn các ước tính thương mại, dao động trong khoảng từ 300.000 – 600.000 tấn. Ai Cập là điểm đến số 1, với 166.000 tấn. Tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 vẫn cao hơn so với tốc độ của năm ngoái, hiện ở mức 53,64 triệu tấn.

    IHS Markit hiện dự đoán diện tích gieo trồng đậu nành của Mỹ năm 2021 ở mức 36,31 triệu héc-ta, thấp hơn một chút so với dự báo trong tháng 1 là 36,45 triệu héc-ta nhưng tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Giả sử năng suất trung bình là 3,43 tấn/ha, thì tổng sản lượng sẽ là 123,40 triệu tấn trong vụ tới.

    Theo AgRural, thu hoạch đậu nành vụ 2020/21 tại Brazil vẫn đang chậm lại so với tốc độ năm ngoái, ở mức 59% hoàn thành. Tuy nhiên, thời tiết khô ráo hơn trong những ngày qua đã giúp tốc độ thu hoạch tăng nhanh hơn. Năm ngoái, thu hoạch đã hoàn thành 66% cho đến tuần thứ ba của tháng Ba.

    Bắp

    Giá bắp giảm hơn 1% trong một đợt bán kỹ thuật sau khi thị trường nhận thấy các đơn hàng xuất khẩu lớn sang Trung Quốc trong tuần qua không hỗ trợ nhiều cho mức tăng vào đầu tuần này. Kỳ vọng về sản lượng thu hoạch lớn ở Hoa Kỳ và Brazil cũng góp phần gây áp lực.

    Kiểm tra xuất khẩu bắp hàng tuần giảm nhẹ so với tuần trước, xuống còn 1,96 triệu tấn. Mexico là điểm đến số 1, với 452.000 tấn. Tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 tiếp tục tăng trưởng so với tốc độ của năm ngoái, đạt 31,98 triệu tấn.

    Quan hệ thương mại Mỹ-Trung vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện sau các cuộc đàm phán cấp cao tuần trước, nhưng Trung Quốc vẫn mua một lượng lớn ngũ cốc của Mỹ trong năm nay. Nước này đã mua một lượng bắp Mỹ cao kỷ lục, trong khi cũng mua một lượng đậu nành ở mức cao nhất kể từ năm 1991.

    IHS Markit Agribusiness tăng ước tính diện tích trồng bắp năm 2021 của Hoa Kỳ từ 38,14 triệu héc-ta vào tháng 1 lên 38,16 triệu héc-ta, cao hơn 3,8% so với tổng diện tích năm 2020.

    Vụ bắp thứ hai của Brazil hiện được trồng khoảng 86%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình là 96% cùng kỳ. Khoảng 14,08 triệu héc-ta bắp sẽ được trồng trong mùa này và sẽ chiếm khoảng 77% tổng sản lượng bắp của Brazil.

    Lúa mì

    Giá lúa mì bắt đầu tuần mới mức giảm sau một đợt điều chỉnh kỹ thuật không đồng đều.

    Kiểm tra xuất khẩu lúa mì hàng tuần giảm nhẹ so với tuần trước, xuống còn 647.700 tấn. Bangladesh là điểm đến số 1, với 117.000 tấn. Tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 vẫn thấp hơn một chút so với tốc độ của năm ngoái, ở mức 19,95 triệu tấn.

    IHS Markit dự đoán diện tích gieo trồng toàn bộ lúa mì ở Hoa Kỳ sẽ là 18,32 triệu héc-ta trong năm 2021, không thay đổi so với dự báo trong tháng 1.

    SovEcon ước tính xuất khẩu lúa mì tháng 2 của Nga ở mức 3,76 triệu tấn, cao hơn 36% so với tháng 1 nhưng lại là con số xuất trong tháng thấp nhất kể từ tháng 7 năm ngoái. Nga là nhà xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Tư 22, 2021, 3:24 am
    Code Buy Sell
    AUD 17.00 18.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 24.00 25.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 26.00 28.00
    GBP 31.00 32.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 319.67
    JPY 207.08 217.90
    KRW 17.90 21.79
    KWD - 79.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 335.84
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 653.92 753.87
    USD 22.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 69
    • Khách viếng thăm: 17
    • Máy chủ tìm kiếm: 52
    • Hôm nay: 1040
    • Tháng hiện tại: 135071
    • Tổng lượt truy cập: 14124326