[CBOT 23.12.2020] Bắp, đậu nành và lúa mì đều tiếp tục tăng mạnh

    Đăng lúc: Thứ năm - 24/12/2020 10:04
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên giao dịch ngày 23/12 tăng 11,50 cent, ở mức 1.258,75 cent/bushel, giảm 8,0 cent so với mức cao nhất và tăng 18,25 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 03/2021 chốt phiên tăng 10,0 cent, ở mức 1.260 cent/bushel, tăng 17,50 cent so với mức thấp nhất và giảm 7,75 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên tăng 6,20 usd, ở mức 421,20 usd/short tấn, giảm 1,70 usd so với mức cao nhất và tăng 8,0 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên tăng 0,80 cent, ở mức 41,35 cent/pound, giảm 0,48 cent so với mức cao nhất và tăng 0,92 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành tiếp tục tăng hai con số vào thứ Tư, đạt mức cao chưa từng thấy kể từ Hè năm 2014. Thị trường tập trung vào các thông tin từ Nam Mỹ với thời tiết khô hạn vào đầu mùa vụ, cũng như cuộc khủng hoảng giao nhận đang diễn ra tại đây.

    Lượng xuất khẩu đậu nành vụ cũ đã giảm xuống mức thấp nhất trong năm vào tuần trước, xuống còn 0,35 triệu tấn. Lượng xuất bán vụ mới ở mức 0,17 triệu tấn. Các nhà phân tích đã mong đợi kết quả tốt hơn, với ước tính thương mại trung bình nằm trong khoảng từ 0,55 – 0,85 triệu tấn. Tuy nhiên, tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 vẫn vượt xa tốc độ của năm trước, với 34,89 triệu tấn.

    Trong khi đó, lượng xếp hàng xuất khẩu đậu nành chỉ thấp hơn 1% so với mức trung bình 4 tuần trước đó là 2,52 triệu tấn. Trong đó, Trung Quốc chiếm hơn một nửa, với 1,37 triệu tấn.

    Cuộc đình công ở Argentina hiện đã kéo dài 14 ngày sau khi vòng đàm phán mới nhất vẫn không có kết quả. Công nhân đang yêu cầu mức lương cao hơn để đối phó với tỷ lệ lạm phát hai con số. Đầu tuần, các nhà xuất khẩu cho biết hơn 100 tàu hàng đã không được xếp dỡ hàng do cuộc đình công này.

    Tại Brazil, xuất khẩu đậu nành đã chậm lại và ở mức thấp trong tháng 12, chỉ đạt 11.975 tấn, phần lớn do nguồn cung giảm sau khi xuất khẩu rất mạnh hồi đầu năm. Tháng 12 năm ngoái, Brazil đã xuất khẩu 2,50 triệu tấn đậu nành.

    Bắp

    Giá bắp tăng phiên thứ 9 liên tiếp do thời tiết khô hạn đầu vụ mùa 2020/21 ở Nam Mỹ, điều này có thể dẫn đến tiềm năng sản lượng giảm. Giá các mặt hàng ngũ cốc khác tăng cũng hỗ trợ.

    Lượng xuất khẩu bắp hàng tuần giảm 66% so với tuần trước và thấp hơn 59% so với mức trung bình của 4 tuần trước đó, ở mức 0,65 triệu tấn (mức thấp trong năm tiếp thị). Tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 về cơ bản vẫn cao hơn đáng kể so với tốc độ của năm ngoái, với 12,89 triệu tấn.

    Sản lượng ethanol phục hồi từ 957.000 thùng/ngày trong tuần trước lên 976.000 thùng/ngày trong tuần kết thúc vào ngày 18/12. Trong khi đó, tồn kho ở mức cao nhất kể từ tháng 5 với 23,17 triệu thùng.

    Nhập khẩu bắp của Trung Quốc trong tháng 11 đã tăng cao hơn 1.0% so với một năm trước, đạt 1,23 triệu tấn. Nhập khẩu bắp tính từ đầu năm đến nay tăng hơn 122%, với 9,04 triệu tấn.

    Tồn trữ bắp của Nam Phi giảm sau khi lượng xuất khẩu tốt trong tháng trước. Xuất khẩu tháng 11 đạt 1,96 triệu tấn khiến lượng tồn trữ cuối kỳ giảm xuống mức 6,25triệu tấn.

    Lúa mì

    Giá lúa mì tăng theo giá các loại ngũ cốc khác do khả năng các nhà bột mì Brazil sẽ phải mua lúa mì từ các nước khác nếu cuộc đình công tại Argentina không được giải quyết sớm. Brazil đã mua gần 4,30 triệu tấn lúa mì từ Argentina trong 11 tháng đầu năm 2020.

    Lượng xuất khẩu lúa mì giảm 27% so với tuần trước, trong đó có 394.625 tấn vụ cũ và 21.772 tấn vụ mới. Tổng lượng xuất bán cho năm tiếp thị 2020/21 đã giảm 2% so với tốc độ của năm trước, ở mức 13,53 triệu tấn.

    Nhập khẩu lúa mì của Trung Quốc trong tháng 11 tăng 78% so với cùng kỳ năm trước, ở mức 0,80 triệu tấn. Trong 11 tháng đầu năm 2020, Trung Quốc đã nhập khẩu 7,49 triệu tấn lúa mì, cao hơn 150% so với tốc độ của năm ngoái.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Tư 22, 2021, 9:03 am
    Code Buy Sell
    AUD 17.00 18.00
    CAD 18.00 18.00
    CHF 24.00 25.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 26.00 28.00
    GBP 31.00 32.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 317.15
    JPY 207.26 218.09
    KRW 17.89 21.78
    KWD - 79.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 335.31
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 651.69 751.30
    USD 22.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 24
    • Hôm nay: 2511
    • Tháng hiện tại: 136542
    • Tổng lượt truy cập: 14125797