[CBOT 26.08.2021] Dầu đậu nành giảm khiến giá khô dầu đậu nành tiếp tục tăng

    Đăng lúc: Thứ sáu - 27/08/2021 10:00
    Giá đậu nành kỳ hạn tháng 9 chốt phiên giao dịch ngày 26/8 tăng 21,50 cent, ở mức 1.367,50 cent/bushel, giảm 6,25 cent so với mức cao nhất và tăng 26,0 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 chốt phiên giảm 6,50 cent, ở mức 1.326,25 cent/bushel, tăng 8,25 cent so với mức thấp nhất và giảm 5,25 cent so với mức cao nhất.
    Hình minh họa.

    Hình minh họa.

    Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 9 chốt phiên tăng 4,20 usd, ở mức 356,50 usd/short tấn, giảm 1,10 usd so mức cao nhất và tăng 5,80 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 9 chốt phiên giảm 0,56 cent, ở mức 61,33 cent/pound, giảm 0,62 cent so với mức cao nhất và tăng 1,0 cent so với mức thấp nhất.

    Giá đậu nành có phiên giao dịch biến động khi mức chênh lệch giữa kỳ hạn tháng 9 và tháng 11 được nới rộng sau một đợt điều chỉnh kỹ thuật. Lạc quan xuất khẩu giúp giá các kỳ hạn gần tăng, trong khi thời tiết có mưa trên diện rộng ở khu vực Trung Tây đã tạo ra một số áp lực giảm giá cho các kỳ hạn xa hơn. Dầu đậu nành giảm khiến giá khô dầu đậu nành tăng mạnh trong phiên, nhưng sau đó đà tăng chậm lại do áp lực giảm giá của đậu nành.

    Bộ NN Mỹ cho biết đã xuất bán 133.000 tấn đậu nành cho Trung Quốc và 132.150 tấn cho một quốc gia chưa công bố, giao hàng trong năm tiếp thị 2021-2022.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 19/8, lượng xuất khẩu đậu nành tăng 75.100 tấn cho giai đoạn 2020-2021 và tăng 1.750.000 tấn cho giai đoạn 2021-2022. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 261.300 tấn, thấp hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu của Bộ NN Mỹ là 61,51 triệu tấn trong giai đoạn 2020-2021. Cam kết xuất khẩu đậu tương hiện đạt 62,16 triệu tấn trong giai đoạn 2020-2021 và cao hơn các ước tính.

    Lượng xuất khẩu khô dầu đậu nành hàng tuần được báo cáo ở mức 61.700 tấn cho giai đoạn 2020-2021 và 139.500 tấn cho giai đoạn 2021-2022.

    Lượng xuất khẩu dầu đậu nành hàng tuần ở mức 3.000 tấn, giao hàng trong năm tiếp thị 2020-2021.

    Conab dự đoán sản lượng đậu nành của Brazil cao kỷ lục vào năm 2021/22, ở mức 141,25 triệu tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng đậu nành của Brazil dự kiến ​​sẽ tăng thêm 3,6% nữa trong mùa vụ tới, đạt 39,91 triệu héc-ta.

    Bắp

    Giá bắp chốt phiên giảm nhẹ. Thông tin về một giao dịch bán cho Colombia được báo cáo vào buổi sáng đã hỗ trợ giá tăng, nhưng mưa trên diện rộng và số liệu xuất khẩu hàng tuần kém đã gây áp lực lên giá bắp.

    Bộ NN Mỹ cho biết đã xuất bán 100.000 tấn bắp cho Colombia, giao hàng trong năm tiếp thị 2021-2022.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 19/8, lượng xuất khẩu bắp tăng 6.600 tấn cho giai đoạn 2020-2021 và tăng 684.000 tấn cho giai đoạn 2021-2022. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 759.500 tấn, thấp hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu của Bộ NN Mỹ là 70,49 triệu tấn trong giai đoạn 2020-2021. Cam kết xuất khẩu bắp hiện đạt 70,33 triệu tấn trong giai đoạn 2020-2021 và tăng 58% so với một năm trước.

    Lúa mì

    Giá lúa mì tăng nhẹ khi thị trường tiếp tục có những đợt mua kỹ thuật khi nguồn cung toàn cầu thắt chặt hơn và một số lo ngại về sản lượng kéo dài các nước khác. Giá lúa mì vụ Đông có xu hướng tăng mạnh nhất, tăng hơn 2%, trong khi giá lúa mì vụ Xuân tăng khoảng 0,5%.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 19/8, lượng xuất khẩu lúa mì tăng 116.000 tấn cho giai đoạn 2021-2022. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 674.900 tấn, cao hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu 23,81 triệu tấn của Bộ NN Mỹ trong giai đoạn 2021-2022. Cam kết xuất khẩu lúa mì hiện đạt 9,12 triệu tấn trong giai đoạn 2021-2022 và giảm 22% so với một năm trước.

    Mưa lớn trong giai đoạn thu hoạch lúa mì tại Pháp có thể gây lên các vấn đề tiêu cực về chất lượng. Tại Đức, sản lượng lúa mì cũng có khả năng giảm 3,6%, xuống mức 21,37 triệu tấn do thời tiết xấu.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng Chín 20, 2021, 8:49 pm
    Code Buy Sell
    AUD 16.00 16.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 23.00 24.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 25.00 27.00
    GBP 30.00 31.00
    HKD 2.00 2.00
    INR - 320.42
    JPY 202.06 213.76
    KRW 16.53 20.13
    KWD - 78.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 347.87
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 602.76 694.90
    USD 22.00 22.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 29
    • Hôm nay: 6040
    • Tháng hiện tại: 137917
    • Tổng lượt truy cập: 15149532