[CBOT 29.10.2020] Thị trường bán tháo khi các ca nhiễm COVID-19 tăng liên tục

    Đăng lúc: Thứ sáu - 30/10/2020 09:00
    Giá đậu nành kỳ hạn tiếp tục giảm do sự gia tăng số ca nhiễm COVID-19 trên khắp thế giới tác động xấu đến triển vọng nhu cầu, mặc dù nhu cầu xuất khẩu hiện vẫn đang tốt. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 chốt phiên giảm 5,50 cent, ở mức 1.051,75 cent/bushel, giảm 10,75 cent so với mức cao nhất và tăng 0,75 cent so với mức thấp nhất. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 01/2021 chốt phiên giảm 4,25 cent, ở mức 1.050,50 cent/bushel, tăng 2,0 cent so với mức thấp nhất và giảm 8,25 cent so với mức cao nhất.
    Đức và Pháp đã phải áp đặt lệnh đóng cửa do sự gia tăng các ca nhiễm COVID-19.

    Đức và Pháp đã phải áp đặt lệnh đóng cửa do sự gia tăng các ca nhiễm COVID-19.

    Sự bất ổn kinh tế trên toàn cầu, cùng với nguy cơ về một cuộc đình công sắp tới tại Argentina (nước xuất khẩu khô dầu đậu nành lớn nhất thế giới) đã dẫn đến giá các sản phẩm từ đậu nành tăng cao hơn. Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 12 chốt phiên tăng 0,20 usd, ở mức 376,90 usd/short tấn, giảm 2,10 usd so với mức cao nhất và tăng 4,10 usd so với mức thấp nhất.

    Giá dầu đậu nành kỳ hạn tháng 12 chốt phiên giảm 0,36 cent, ở mức 33,06 cent/pound, giảm 0,50 cent so với mức cao nhất và tăng 0,20 cent so với mức thấp nhất.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 22/10, Bộ NN Mỹ báo cáo lượng xuất khẩu đậu nành tăng 1.620.700 tấn cho giai đoạn 2020-21 và tăng 9.000 tấn cho giai đoạn 2021-22. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 2.697.056 tấn, cao hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu 59,87 triệu tấn của Bộ NN Mỹ trong giai đoạn 2020-2021. Cam kết xuất khẩu đậu nành hiện đạt 46,97 triệu tấn cho giai đoạn 2020-2021 và tăng 145% so với một năm trước.

    Lượng xuất khẩu khô dầu đậu nành hàng tuần được báo cáo ở mức 199.300 tấn và tất cả đều cho năm tiếp thị 2020-2021.

    Lượng xuất khẩu dầu đậu nành hàng tuần đạt 6.000 tấn và tất cả đều cho năm tiếp thị 2020-2021.

    Dự kiến ​​sẽ có nhiều hành động đình công hơn tại Argentina sau khi các đề nghị tăng thu nhập cho công nhân ngành ép dầu được cho là “không thỏa đáng”. Công đoàn không hài lòng với khoản chi trả hỗ trợ thiệt hại do COVID-19 và khả năng sẽ có thêm một cuộc đình công kéo dài trong 24 giờ giống như tuần trước.

    Bắp

    Các ca nhiễm coronavirus gia tăng ở Hoa Kỳ và Châu Âu khiến tình hình kinh tế thế giới thêm bất ổn đã khiến giá bắp kỳ hạn giảm xuống dưới mức chuẩn 4 usd/bushel vào buổi sáng. Giá bắp kỳ hạn tháng 12 chốt phiên giảm 3,0 cent, ở mức 398,50 cent/bushel.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 22/10, Bộ NN Mỹ báo cáo lượng xuất khẩu bắp tăng 2.243.700 tấn. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 734.060 tấn, thấp hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu 59,06 triệu tấn của Bộ NN Mỹ cho giai đoạn 2020-2021. Cam kết xuất khẩu bắp hiện đạt 30,58 triệu tấn cho giai đoạn 2020-2021 và tăng 168% so với một năm trước.

    Sản lượng ethanol phục hồi sau khi giảm 2,6% so với tuần trước đó. Báo cáo trong tuần kết thúc vào ngày 23/10, sản lượng ethanol tăng 1,2 triệu thùng/ngày, điều đó có nghĩa là khoảng 2,60 triệu tấn bắp được tiêu thụ để làm nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học và là mức cao nhất trong 07 tuần.

    Lúa mì

    Giá lúa mì giảm từ đầu phiên do ảnh hưởng của COVID-19. Đồng đô-la Mỹ mạnh hơn và thời tiết có mưa tại các khu vực sản xuất lúa mì chính ở Nga và Đồng bằng phía Nam của Hoa Kỳ cũng góp phần làm giá giảm.

    Trong tuần kết thúc vào ngày 22/10, Bộ NN Mỹ báo cáo lượng xuất khẩu lúa mì tăng 743.200 tấn cho giai đoạn 2020-21 và tăng 60.000 tấn cho giai đoạn 2021-2022. Lượng xếp hàng xuất khẩu của tuần trước là 443.613 tấn, thấp hơn mức cần thiết hàng tuần để đạt được ước tính xuất khẩu của Bộ NN Mỹ là 26,54 triệu tấn cho giai đoạn 2020-21. Cam kết xuất khẩu lúa mì hiện đạt tổng cộng 16,17 triệu tấn cho giai đoạn 2020-2021 và tăng 11% so với một năm trước.

    Nguồn tin: www.qdfeed.com
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng M. một 28, 2020, 8:26 am
    Code Buy Sell
    AUD 16.00 17.00
    CAD 17.00 18.00
    CHF 24.00 25.00
    CNY 3.00 3.00
    DKK - 3.00
    EUR 26.00 28.00
    GBP 30.00 31.00
    HKD 2.00 3.00
    INR - 325.34
    JPY 214.91 226.10
    KRW 18.14 22.08
    KWD - 78.00
    MYR - 5.00
    NOK - 2.00
    RUB - 340.68
    SAR - 6.00
    SEK - 2.00
    SGD 16.00 17.00
    THB 676.20 779.55
    USD 23.00 23.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 21
    • Hôm nay: 1789
    • Tháng hiện tại: 167576
    • Tổng lượt truy cập: 13219009