Cơ hội xuất khẩu thủy sản trên con đường hội nhập

    Đăng lúc: Thứ ba - 06/10/2015 16:15
    Nông nghiệp vẫn là ngành thế mạnh của Việt Nam. Trong đó, thủy sản được đánh giá là có thế mạnh nhất, tiếp đến là trồng trọt, chăn nuôi xếp vị trí thứ ba. Cả ba ngành này đều có xu hướng chịu tác động khá rõ của các đàm phán liên quan đến nội dung thuế quan, SPS – TBT, đầu tư và lao động; trong đó bao gồm cả những mặt thuận lợi và khó khăn khi tham gia Hiệp định TPP.
    Chế biến cá tra XK. (Ảnh internet)

    Chế biến cá tra XK. (Ảnh internet)

    I. VAI TRÒ CỦA THỦY SẢN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

    Việt Nam hiện được xếp vào nhóm các quốc gia có khả năng và năng lực cạnh tranh cao trong ngành thủy sản.

    Với lợi thế chiều dài bờ biển 3.260 km và 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế,Việt Nam hiện đứng thứ 3 thế giới về nuôi trồng thủy sản (sau Trung Quốc, Ấn Độ) với 6,8 triệu tấn năm 2014, và thứ 4 thế giới về xuất khẩu thủy sản (sau Trung Quốc, Na Uy, Thái Lan), với kim ngạch xuất khẩu đạt 7,9 tỷ USD năm 2014.

    Hình 1: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam 1993-2014
    Nguồn: Vasep

    Trong 10 năm qua, ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu của Việt Nam không ngừng phát triển và đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế.

    Với giá trị gia tăng cao, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam chiếm 6-7% giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn quốc (đứng thứ 5 sau điện tử, may mặc, dầu thô và da-giày).

    Thủy sản Việt Nam đã được xuất khẩu sang 165 thị trường, với 612 nhà máy chế biến quy mô công nghiệp đạt quy chuẩn ATTP, trong đó 461 nhà máy đạt điều kiện xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) (chiếm hơn 75%).

    Hai loại thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là tôm và cá tra.

    1. Tôm

    Việt Nam hiện đứng thứ 3 trên thế giới về sản lượng tôm và thứ 4 thế giới về xuất khẩu. Sản lượng tôm Việt Nam đạt từ 500.000 – 600.000 tấn/năm. Giai đoạn 2012 – 2014, sản lượng tôm tăng mạnh nhờ sản xuất tôm chân trắng mở rộng nhanh chóng. Việt Nam là nước sản xuất tôm sú lớn nhất thế giới với sản lượng trung bình 300.000 tấn/năm.

    10 năm qua, tôm luôn chiếm tới 50% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Năm 2014, xuất khẩu tôm đạt gần 4 tỷ USD.

    Giá trị XK đạt gần 4 tỷ USD năm 2014. Tôm Việt Nam được xuất khẩu sang 96 thị trường trên thế giới. Chất lượng và tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh ngày càng được đảm bảo.

    Hình 2: Sản lượng tôm Việt Nam 2012-2014
    Nguồn: Vasep
     

    Xuất khẩu tôm Việt Nam tăng trưởng ổn định trong 10 năm qua. Năm 2012, xuất khẩu tôm giảm do ảnh hưởng của EMS (Hội chứng tôm chết sớm) nhưng nhanh chóng phục hồi nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt.

    Hình 3: Xuất khẩu tôm Việt Nam 2005-2014

    Nguồn: Vasep

    2. Cá tra

    Diện tích nuôi cá tra Việt Nam đã tăng gấp 5 lần chỉ trong vòng 14 năm (2000-2014), đạt 5,6 nghìn ha. Cũng trong giai đoạn này, sản xuất thương mại hàng năm của cá tra nguyên liệu tăng gần 29,8 lần, từ 37.500 tấn đến 1.119.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu tăng 43,6 lần, từ US $40 triệu năm 2000 lên $1.76 triệu năm 2014

    Hình 4: Xuất khẩu cá tra 2013-2013

    Nguồn: Vasep

    Số thị trường xuất khẩu tăng từ chỉ vài quốc gia ở châu Á năm 2000 lên 151 quốc gia và vùng lãnh thổ tại tất cả các châu lục trong năm 2014, với tổng kim ngạch 1,768 tỷ USD, tăng 0,4% so với năm 2013.

    II. TRIỂN VỌNG CUNG - CẦU THỦY SẢN THẾ GIỚI TRONG TRUNG HẠN

    Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho biết, mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người trên thế giới liên tục tăng cao, từ 11,8 kg/người/năm 1981 lên 16,8 kg/người/năm 2006 và dự kiến đạt 20 kg/người/năm vào 2030.

    Triển vọng ngành thủy sản toàn cầu đến năm 2022

    FAO đã đưa ra dự báo về triển vọng ngành thủy sản toàn cầu giai đoạn 2013 - 2022, trong đó sản lượng thủy sản toàn cầu sẽ tăng 18%. 

    1. Sản lượng

    Sản lượng thủy sản toàn cầu được dự đoán sẽ đạt 181 triệu tấn vào năm 2022, tăng 18% so với mức trung bình giai đoạn 2010-12 với mức tăng trưởng bình quân hằng năm là 1,3%, trong đó 161 triệu tấn dành làm thực phẩm.

    Sản lượng khai thác thủy sản dự kiến tăng 5%, đạt khoảng 96 triệu tấn vào năm 2022, nhờ sự phục hồi của một số nguồn lợi thông qua việc nâng cao quản lý chúng, tăng trưởng tại một số quốc gia không áp dụng hạn ngạch sản xuất nghiêm ngặt và việc tận dụng phụ phẩm từ sản xuất thủy sản do luật định hoặc do chi phí sản xuất ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, trong năm 2015 và 2020, hiện tượng El Niño có khả năng sẽ làm giảm sản lượng khai thác 3-4%.

    Nguồn cung thủy sản tăng chủ yếu là từ nuôi trồng thủy sản (NTTS), dự kiến đạt 85 triệu tấn năm 2022, tăng 35% so với mức trung bình giai đoạn 2010-12. Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng trung bình hằng năm dự kiến sẽ chỉ đạt 2,5% trong giai đoạn 2013- 2022, thấp hơn nhiều so với mức 6,1% trong giai đoạn 2003-2012, nguyên nhân chính là do khan hiếm nguồn nước ngọt, thiếu địa điểm sản xuất phù hợp và giá thành bột cá, dầu cá và thức ăn chăn nuôi cao. Tuy nhiên, NTTS vẫn là một trong những ngành sản xuất thực phẩm tăng trưởng nhanh nhất.

    Tỷ trọng nuôi trồng thủy sản (NTTS) đóng góp cho sản lượng thủy sản toàn cầu sẽ tăng từ 41% giai đoạn 2010-12 lên 47% vào năm 2022. NTTS cũng đóng góp trên 50% cho sản xuất thực phẩm vào năm 2015 và đạt 53% vào năm 2022. Đến năm 2020 tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu sẽ đạt khoảng 4,49 triệu tấn, bình quân tăng 4,14%/năm bằng 1/2 so với tốc độ tăng thời trước đó (1994-2013).

    Theo World Bank, tổng cung thủy sản dự báo sẽ tăng từ 154 triệu tấn năm 2011 lên 186 triệu tấn năm 2030, và thủy sản nuôi thả sẽ đóng góp trên 60% vào tổng tiêu thụ thủy sản thực phẩm vào thời điểm đó.

    Hình 5: Nuôi trồng thủy sản ngày càng quan trọng trong nguồn cung thủy sản toàn cầu 

    Nguồn: FAO

    Nuôi trồng thủy sản nước ngọt sẽ tăng nhanh, chủ yếu nhờ các loài cá rô phi, cá chép, cá tra và các loài cá da trơn khác. Sản lượng cá rô phi dự báo sẽ tăng gấp hơn 2 lần từ năm 2008 đến 2030, sản lượng một số loài có giá trị cao (tôm, cá hồi, cá tầm và cá chình) dự báo cũng sẽ tăng khoảng 50-60% trong giai đoạn này.

    Để đáp ứng nhu cầu thủy sản thế giới tăng nhanh trong khi thủy sản đánh bắt tự nhiên không tăng, nuôi trồng thủy sản sẽ tiếp tục lấp đầy khoảng cách cung – cầu, nhưng sản lượng thủy sản nuôi thả sẽ không đạt mức tăng trưởng kỷ lục 11% của những năm 1980, mặc dù áp dụng tiến bộ kỹ thuật và có những chính sách thuận lợi cho ngành này.

    Châu Á sẽ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng thủy sản thế giới, tăng từ 68% giai đoạn 2010-12 lên 71% trong năm 2022, chiếm 55% sản lượng thủy sản khai thác và 89,2% sản lượng thủy sản nuôi toàn cầu. Trung Quốc vẫn sẽ là nhà sản xuất chính, chiếm lần lượt 16% và 63% sản lượng khai thác và NTTS toàn cầu. Các nước OECD (Tổ chức Hợp tác & Phát triển Kinh tế), trong đó Na Uy và Chilê là hai nhà sản xuất chính, chỉ đóng góp 27% và 8% trong sản lượng khai thác và NTTS toàn cầu năm 2022.

    Năm 2022, dự kiến khoảng 16% sản lượng thủy sản khai thác được sử dụng để chế biến bột cá và dầu cá, giảm 7% so với mức trung bình giai đoạn 2010- 12. Sản lượng bột cá và dầu cá dự kiến sẽ đạt lần lượt 7,0 triệu tấn và 1,1 triệu tấn, tăng 15% và 10% so với giai đoạn 2010-12. Gần 95% sản lượng bột cá tăng là nhờ tận dụng phụ phẩm cá. Nhu cầu ổn định và giá bột cá cao, cộng thêm việc thiếu nguyên liệu và các sản phẩm thủy sản giá trị gia tăng (GTGT) làm thực phẩm ngày càng nhiều sẽ dẫn tới việc phụ phẩm thủy sản được sử dụng nhiều hơn trong sản xuất bột cá. Bột cá từ phụ phẩm cá sẽ chiếm 49% tổng sản lượng bột cá trong năm 2022.

    2. Giá cả

    Giá tất cả các loại thủy sản dự báo sẽ tăng trong 2 thập kỷ tới, với giá thủy sản đánh bắt tự nhiên tăng nhanh hơn thủy sản nuôi thả. Cụ thể, giá các loài sử dụng làm dầu và bột cá sẽ tăng cao. WB dự báo giá bột và dầu cá sẽ tăng lần lượt 90% và 70% trong giai đoạn 2010-2030.

    Giá cả và chi phí sản xuất trong giai đoạn này sẽ tăng do một vài yếu tố khiến nhu cầu tăng như thu nhập và dân số tăng, giá thịt tăng và đồng đôla yếu. Hơn nữa, những yếu tố làm giảm nguồn cung như hạn chế về khả năng tăng sản lượng khai thác và áp lực chi phí từ một số đầu vào quan trọng (như năng lượng, bột cá, dầu cá và các thức ăn chăn nuôi khác). Giá trung bình thủy sản khai thác cũng được dự báo sẽ tăng nhanh hơn giá thủy sản nuôi, với mức tăng lần lượt là 39% và 33%.

    Do cầu vượt cung, giá bột cá và dầu cá sẽ tăng lần lượt 6% và 23% vào năm 2022. Nguồn cung khan hiếm của hai sản phẩm này sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ giá cả giữa sản phẩm từ cá và hạt có dầu. Với các sản phẩm bột, tỷ lệ giá cả tăng do bột cá được ưa chuộng hơn trong một số giai đoạn nuôi động vật (như lợn và cá hồi). Tỷ số giá giữa dầu cá và dầu lấy từ hạt có dầu dự kiến sẽ tăng, do nhu cầu ngày càng cao đối với axit béo omega3 có trong dầu cá.

    Giá trung bình thủy sản làm thực phẩm sẽ tăng 30%, nhưng vẫn dưới mức đầu những năm 1990. 

    3. Tiêu thụ

    Tăng trưởng dân số và thu nhập cùng với đô thị hóa và đa dạng hóa chế độ dinh dưỡng tại các nước đang phát triển, theo dự đoán sẽ làm gia tăng nhu cầu về các sản phẩm động vật, trong đó có thủy sản.

    Tiêu thụ thủy sản toàn cầu dự báo sẽ đạt 188 triệu tấn vào năm 2020, chủ yếu bởi tiêu thụ hải sản tăng ở cả các nước phát triển cũng như đang phát triển,, trong bối cảnh trữ lượng thủy sản tự nhiên ngày càng giảm sút.

    Tiêu thụ thủy sản trên đầu người/năm dự kiến tăng từ 18,9 kg trong giai đoạn cơ sở lên 20,7 kg năm 2022. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng hằng năm sẽ giảm từ 1,8% trong giai đoạn 2003- 2012 xuống còn 0,6%.

    Tổng nhu cầu tiêu thụ tôm nuôi toàn cầu năm 2020 dự báo vào khoảng 6,55 triệu tấn, như vậy khả năng thiếu hụt là rất lớn, khoảng 2,06 triệu tấn. Trong đó, nhu cầu tiêu thụ tôm của Mỹ cần khoảng 652,7 nghìn tấn, thị trường Nhật Bản cần khoảng 490,9 nghìn tấn, thị trường EU cần khoảng 889,8 nghìn tấn, riêng Việt Nam nhu cầu tiêu thụ tôm cũng rất lớn khoảng 190,7 nghìn tấn vào năm 2020.

    Theo dự báo của OECD-FAO và World Bangk, nhu cầu hải sản sẽ tiếp tục tăng nhanh tỏng 2 – 3 thập kỷ tới. Tổng tiêu thụ hải sản toàn cầu dự báo sẽ tăng từ 111,697 triệu tấn năm 2006 lên 151,771 triệu tấn năm 2030, tăng gần 36%.

    Các thị trường sẽ có tiêu thụ tăng nhanh bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Nam Á khác. Ngoài dân số đông, những khu vực này còn có mức tăng trưởng thu nhập cao nhất thế giới. Từ 2010 đến 2030, thu nhập trung bình người ở Trung Quốc và Ấn Độ dự báo sẽ tăng lần lượt gấp gần 3 lần và gần 2 lần. Thị trường hải sản Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), chiếm khoảng 7,3% tổng tiêu thụ thủy sản toàn cầu năm 2006, dự báo sẽ tăng 34% trong giai đoạn 2010 – 2030.

    Nhu cầu hải sản tăng sẽ được đáp ứng bởi sản lượng hải sản nuôi trồng tăng. Sản lượng thủy sản đánh bắt tự nhiên sẽ vẫn ổn định ở mức khoảng 93 triệu tấn trong giai đoạn 2010 – 2030, song sản lượng nuôi thả sẽ tăng mạnh.

    Trung Quốc sẽ gia tăng ảnh hưởng trên thị trường thủy sản toàn cầu, và có khả năng sẽ chiếm 37% tổng sản lượng thủy sản và 38% lượng tiêu thụ thủy sản thực phẩm toàn cầu vào năm 2030. Một số nước Nam và Đông Nam Á đã tăng nguồn cung thủy sản nuôi trồng để đáp ứng nhu cầu trong nước, cũng như nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc. Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Á, Nhật Bản, Châu Phi cận Sahara, Trung Đông và Bắc Phi dự báo sẽ vẫn là những khu vực nhập ròng nhiều thủy hải sản. sản. Bắc Mỹ có khả năng sẽ tăng nhập khẩu ròng của hải sản từ 2,405 triệu tấn năm 2006 lên 5,464 triệu tấn năm 2030; tăng 90% trong khoảng thời gian 2010-2030.

    4. Thương mại

    Thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản vẫn sẽ là mặt hàng được giao dịch nhiều nhất trên toàn thế giới. Nhu cầu ổn định, chính sách tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa hệ thống thực phẩm, dịch vụ logistics được nâng cao cũng như tiến bộ công nghệ sẽ tiếp tục đẩy mạnh thương mại thủy sản toàn cầu.

    Mức tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ thủy sản dự báo sẽ không đồng đều giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Thương mại quốc tế sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng giữa cung và cầu thủy sản ở các nước khác nhau. Thương mại thủy sản quốc tế dự kiến ​​sẽ tăng lên đáng kể.

    WB dự báo tổng thương mại thủy sản toàn cầu có thể tăng từ 12,258 triệu tấn năm 2006 lên 17,756 triệu tấn năm 2030, với mức tăng trưởng 40% giai đoạn 2010-2030.

    Khoảng 36% tổng sản lượng sản xuất thủy sản được xuất khẩu vào năm 2022. Khối lượng thủy sản giao dịch để làm thực phẩm dự kiến sẽ tăng 22%. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hằng năm sẽ giảm từ 3,3% trong giai đoạn 2003-2012 xuống còn 1,8% trong giai đoạn 2013-2022, một phần do giá tăng, chi phí vận chuyển cao hơn và tốc độ phát triển thủy sản nuôi thả chậm hơn.

    Những nước đang phát triển sẽ chiếm 67% tổng xuất khẩu thủy sản làm thực phẩm toàn cầu. Năm 2022, các nước châu Á chiếm tới 54% tổng khối lượng thủy sản xuất khẩu làm thực phẩm toàn cầu, và Trung Quốc là nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.

    Tỷ trọng nhập khẩu thủy sản trong tổng tiêu thụ thủy sản tại các nước phát triển sẽ tăng từ 64% trong giai đoạn cơ sở lên 69% vào năm 2022, trong đó, nhập khẩu thủy sản làm thực phẩm sẽ giảm từ 54% xuống 52%. Trong khi đó, tỷ trọng nhập khẩu thủy sản tại các nước đang phát triển sẽ tăng lên 28%.

    Hình 6: Xuất khẩu thủy sản thực phẩm giai đoạn 2010-12 đến 2022

    Nguồn: FAO, WB


    III. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, thương mại của Việt Nam nói chung và ngành thủy sản nói riêng đã có thêm nhiều cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước phát triển. Chúng ta cần có sự hội nhập, sự chuẩn bị sâu hơn nữa trong sản xuất về hàng hóa, chất lượng, sản lượng ổn định để có thể lĩnh hội được cơ hội này tốt hơn.

    Với các hiệ định thương mại tự do (FAT) đã ký, nhiều cơ hội giành cho xuất khẩu và hợp tác đầu tư sẽ được đưa ra, cùng với quá trình sản xuất và giá trị gia tăng.

    FTA giữa Việt Nam, Hàn Quốc và Liên minh kinh tế Á Âu (bao gồm Nga, Belarus, Kazakhstan, Mỹ và Kyrgyzstan) đã mở ra chân trời mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản.

    Khi hội nhập, chúng ta không phải đánh đổi mà trước hết chúng ta phải đáp ứng được các yêu cầu của một sân chơi. Do đó, chúng ta cần phải chuẩn bị năng lực, đó có thể gọi là năng lực cạnh tranh để đáp ứng được các yêu cầu xuất khẩu. Việc các doanh nghiệp chiếm lĩnh cơ hội đó như thế nào phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh.

    Ngoài các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu…, ngành thủy sản Việt Nam còn đang hướng tới những thị trường tiềm năng khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Mỹ, Trung Đông hay cộng đồng Hồi giáo.

    1. Cơ hội

    Mức tiêu thụ trung bình của các sản phẩm protein động vật/người/năm, trong đó có các sản phẩm thủy sản là mục tiêu lớn và quan trọng của mỗi quốc gia trong chương trình cải thiện chế độ dinh dưỡng cho người dân. Nếu sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thì phải nhập khẩu các sản phẩm thủy sản. Mặt khác, sản lượng khai thác thủy sản luôn phải có giới hạn nhằm bảo tồn nguồn lợi, cho nên việc gia tăng nuôi thủy sản là con đường tất yếu. Đó là thời cơ cho các nước có nguồn lợi khai thác, nuôi trồng thủy sản dồi dào như Việt Nam.

    Sau 9 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ở nhiều khía cạnh, XK thủy sản Việt Nam đã đạt được mục tiêu là gia tăng kim ngạch XK, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, ở cột mốc năm 2015 này, khi Việt nam sẽ hoàn tất các thủ tục để tham gia Hiệp định Thương mại tự do với thị trường EU, Hàn Quốc, với Liên minh hải quan Nga - Belarus – Kazakhstan (FTA) và Hiệp định Thương mại hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì DN XK thủy sản Việt Nam sẽ phải đứng trước những thách thức, rào cản lớn hơn nữa bên cạnh sự hưởng lợi thế lợi nhất về việc ưu đãi thuế.

    Trên con đường hội nhập, ngành thủy sản Việt Nam có một số lợi thế và cơ hội như sau:

    Trong các FTA mà Việt Nam đã và sắp ký kết, thủy sản là một trong những ngành được hưởng lợi lớn nhất từ các cam kết cắt giảm thuế quan. Nhiều FTA quan trọng được ký như FTA Việt Nam – Hàn Quốc: giúp nâng khả năng cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc, Thái Lan, Ecuador (đang phải chịu thuế 20%). FTA giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu được ký kết vào 29/5/2015: 90% số dòng thuế và 90% kim ngạch xuất nhập khẩu của các bên sẽ được mở cửa và tự do hóa. FTA Việt Nam – EU, TPP sắp hoàn tất sẽ mở ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu thủy sản và tôm.

    4 thị trường xuất khẩu lớn và trọng điểm là Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm tới 64,4% tổng giá trị xuất khẩu năm 2014. Vì thế, sự tham gia của 4 đối tác kinh tế quan trọng trên vào các hiệp định thương mại sẽ đem lại những lợi ích, cơ hội lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

    Hàn Quốc, ASEAN và Nga là các thị trường tiềm năng cho tôm Việt Nam khi xuất khẩu sang các thị trường chính gặp khó khăn.

    Nhà nước đang hỗ trợ các DN xuất khẩu thuỷ sản ở những lĩnh vực: Sự linh hoạt trong việc điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu thủy sản trong thời gian tới; đầu tư và nâng cấp các cơ sở chế biến để trang thiết bị đạt yêu cầu ATVSTP của thế giới; hướng dẫn DN các quy định quốc tế liên quan đến thương mại hội nhập. Thứ ba, cung cấp thông tin và định hướng phát triển sản xuất kinh doanh cho các DN; chỉ đạo sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và yêu cầu phát triển bền vững; hướng dẫn các DN xử lý các vướng mắc trong thương mại quốc tế.

    Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản rất năng động, thể hiện qua các mặt sau: các DN còn tích cực chủ động tham gia các đoàn xúc tiến thương mại, triển lãm, hội chợ để tiếp cận và mở rộng thị trường; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chú ý đổi mới về phương pháp quản lý; luôn cải tiến công nghệ; thực hiện tốt việc quản lý tài chính; do sớm hội nhập nên các DN khá năng động trong việc đáp ứng các yêu cầu của thị trường, cả về công nghệ chế biến cũng như yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và ATVSTP.

    Các nhà máy chế biến thủy sản XK của Việt Nam hiện có trang thiết bị, công nghệ hiện đại tầm cỡ thế giới với năng lực chế biến rất cao. Trong số 612 nhà máy chế biến quy mô công nghiệp đạt quy chuẩn an toàn thực phẩm của ngành, có tới 461 nhà máy đạt điều kiện XK sang EU (chiếm 75%).

    Tính chuyên nghiệp của các DN chế biến và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Giám đốc cũng như nhân viên kỹ thuật nắm bắt nhanh nhạy công nghệ mới, nắm bắt thông tin thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và đảm bảo ATVSTP.

    Các DN xuất khẩu thuỷ sản luôn chủ động tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại do Bộ NN&PTNT và VASEP tổ chức, vì vậy đã chủ động điều tiết và phát triển thị trường, đưa giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản ngày càng tăng. Họ cũng tích cực nắm bắt các luật lệ quốc tế cũng như các quy định của các nước thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hoặc hội thảo.

    2. Thách thức

    Con đường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong quá trình hội nhập còn nhiều thách thức:

    Rào cản kỹ thuật: Với việc tự do hóa thương mại, thủy sản Việt Nam sẽ có lợi về thuế quan, nhưng sẽ  là đối tượng để các thị trường áp dụng các rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa hoặc hạn chế NK. Những rào cản như thuế CBPG, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh…đang và sẽ được tăng cường áp dụng.

    Sự bảo hộ thương mại: Sự cạnh tranh về giá cũng chính là “mối nguy” đối với sản phẩm cá thịt trắng hay sản phẩm thủy sản tại một số nước, trong đó có Mỹ. Do đó, nước NK sẽ sử dụng một số rào cản mang tính chất bảo hộ như quy định về yêu cầu dán nhãn sản phẩm “an toàn cá heo” của tổ chức Ell đối với sản phẩm cá ngừ tiếp tục là rào cản đối với DN XK cá ngừ và thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm, cá tra Việt Nam.

    Để được hưởng ưu đãi thương mại, hàng hóa giao dịch trong khu vực FTA nhìn chung phải đáp ứng các quy tắc về xuất xứ. Quy tắc xuất xứ có ý nghĩa quan trọng, thường phức tạp, và trong hầu hết các trường hợp là một phần không thể thiếu trong mọi cuộc đàm phán FTA. Về cơ bản, chỉ những sản phẩm đáp ứng các quy tắc xuất xứ của một FTA mới có thể hưởng các mức thuế suất ưu đãi của FTA đó. Tùy vào nhà XK và nhà NK thuộc quốc gia nào mà FTA nào được áp dụng. Các DN XK sản phẩm sang những nước khác nhau phải hiểu rõ và tuân thủ những quy tắc này. Tuy nhiên nhiều DN Việt Nam không nắm bắt được các ưu đãi của FTA vì tính phức tạp và số lượng lớn quy tắc khiến các DN ngần ngại. Do vậy, thực tế đến nay, các DN Việt Nam mới tận dụng được 30% ưu đãi từ FTA và đang bỏ phí 70% cơ hội.

    Các quy định khác của thị trường ngày càng cao & nghiêm ngặt về ATTP, trách nhiệm môi trường và BV nguồn lợi (IUU); DN phải thường xuyên chuẩn bị để đáp ứng.

    Ngày càng nhiều chứng nhận tự nguyện (GlobalGAP, ASC, BAP, BRC, IFS, FOS ...), bên cạnh tính thúc đẩy, thì các Chứng nhận cũng khiến không chỉ tăng cao Chi phí SX, giảm niềm tin của người tiêu dùng bởi những thông điệp mâu thuẫn nhau mà thậm chí còn tạo khoảng cách và hiểu sai giữa những người sản xuất và các thị trường tiêu thụ chính.

    Chịu cạnh tranh mạnh mẽ: Tham gia vào các hiệp định thương mại đồng nghĩa với việc mở cửa và hội nhập hơn nữa vào tất cả các thị trường. Mặc dù, Chính sách của Nhà nước đã có nhiều thay đổi nhằm tạo cơ hội và điều kiện tối đa cho DN nhưng việc tái cơ cấu, cải cách thủ tục hành chính cần thời gian. Ngoài việc phải cạnh tranh khó khăn với các nước có sản xuất và xuất khẩu cùng sản phẩm, ngành hàng, chi phí sản xuất trong nước ngày càng tăng cao (lương, điện, nước, bao bì, hóa chất, kiểm nghiệm ....), trong khi giá XK có xu hướng không tăng ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam. Đây cũng chính là những rào cản không nhỏ đang giảm sức cạnh tranh của các DN XK thủy sản tại các thị trường NK lớn. Hiện nay, với những ưu đãi về thuế NK nguyên liệu, một số nước đối thủ cạnh canh như: Trung Quốc hay Thái Lan đang hay các nguồn cung lớn khác như: Bangladesh, Indonesia, Ấn Độ… đang khiến DN thủy sản Việt Nam khó cạnh tranh để giành được thị phần.

    Thách thức về vấn đề lao động: Hiện ngành thủy sản còn thiếu đội ngũ các nhà quản lý cũng như lao động có trình độ. Bên cạnh đó, thủy sản là ngành cần lực lượng lao động lớn. Tuy nhiên, vì thực trạng lao động ngành thủy sản không ổn định, thì các quy định chặt chẽ về lao động từ FTA sẽ tăng thêm thách thức cho DN chế biến thủy sản. Vấn đề an toàn lao động, tiền lương, giờ làm việc, vệ sinh lao động, cấm lao động cưỡng bức, cấm lao động trẻ em, cùng cơ chế giám sát và chế tài đặt ra trong hiệp định này sẽ tạo ra không ít thách thức đối với doanh nghiệp khi tham gia vào các chuỗi cung ứng XK, vì nếu vi phạm, có thể bị điều tra, bị kiện và bị phạt. iệc đưa các tiêu chuẩn lao động vào các FTA thế hệ mới bao hàm các thách thức và cơ hội. Do đó, doanh nghiệp cần phải chủ động hơn nữa để nâng cao năng lực, để hội nhập tốt hơn.

    Khâu nguyên liệu đang rất thiếu, hạn chế nguồn lợi thủy sản từ biển do tranh chấp biển đông và lệnh cấm khai thác biển bất hợp pháp từ Trung Quốc.

    Chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa vùng sản xuất với chế biến. Thách thức lớn trên thương trường quốc tế là Các DN phải phát triển cả liên kết dọc từ chăn nuôi đến bàn ăn và liên kết ngang giữa các DN với nhau. Và điều quan trọng là làm sao để tăng được tỷ trọng của chuỗi giá trị quốc gia trong tổng giá trị quốc tế. Tỉ trọng này hiện nay đang rất thấp.
    Khâu marketing còn chưa đủ mạnh

    Ngày càng nhiều việc sử dụng truyền thông “bôi bẩn”, cạnh tranh không lành mạnh của các nhóm lợi ích tương tự (thông tin sai về cá tra VN ....) ở nước ngoài (EU, Australia, Ai cập, ..v.v.)

    Dịch bệnh (ví dụ: bệnh tôm chết sớm – EMS hiện nay) tác động lớn đến sản xuất & tiêu thụ thủy sản.

    Các vụ kiện quốc tế (chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp ..v.v.) nhắm vào nước XK

    Biến đổi khí hậu và tác động trực tiếp đến điều kiện phát triển các loài nuôi chủ lực

    Kinh tế toàn cầu vẫn chưa thoát khỏi suy thoái, giá thủy sản thế giới đang giảm trong khi nguồn cung dự báo tăng, nhu cầu từ các thị trường chính giảm: đồng yên giảm mạnh so với USD khiến XK tôm sang Nhật bị ảnh hưởng, euro giảm và khủng hoảng nợ công Hy Lạp ảnh hưởng đến sự hồi phục kinh tế EU, khiến sức mua của EU giảm.


    Nguồn: Phòng Thông tin kinh tế quốc tế


    Nguồn tin: Nhãn hiệu Việt
     

    Tỷ giá ngoại tệ

    Tháng M. một 18, 2017, 6:57 pm
    Code Buy Sell
    AUD 16,976.52 17,231.34
    CAD 17,539.83 17,928.58
    CHF 22,596.47 23,050.77
    DKK - 3,655.52
    EUR 26,576.28 26,894.03
    GBP 29,729.53 30,206.17
    HKD 2,865.83 2,929.30
    INR - 362.49
    JPY 198.86 202.66
    KRW 19.08 21.34
    KWD - 77,960.40
    MYR - 5,497.15
    NOK - 2,810.97
    RUB - 423.08
    SAR - 6,278.08
    SEK - 2,738.66
    SGD 16,544.18 16,843.09
    THB 677.26 705.53
    USD 22,675.00 22,745.00

    Công ty Thành viên

     
     

    Thống kê

    • Đang truy cập: 35
    • Khách viếng thăm: 30
    • Máy chủ tìm kiếm: 5
    • Hôm nay: 4620
    • Tháng hiện tại: 83430
    • Tổng lượt truy cập: 7086035